Showing posts with label literature. Show all posts
Showing posts with label literature. Show all posts

Tuesday, August 7, 2007

Why not the worst

Đọc bài của bạn Trang, bên cạnh phản ứng có thể hiểu được của bạn khi tác phẩm bị chê (phản ứng mà giờ hay được gọi bằng cái câu “Ai cho mày chê con tao xấu” của Phan Thị Vàng Anh) thì tôi có một số nhận xét sau:

Thứ nhất về cách tôi chê tác phẩm của Dương Thụy và phỏng đoán là có thể có những ẩn ứng về tình dục trong tác phẩm là một điều bình thường. Các nhà phê bình vẫn có những giả thuyết như ảnh hưởng của chứng bất lực, sợ đàn bà của Kafka lên các tác phẩm của ông, hay ám ảnh về tình dục và bạo dâm từ đời tư bản thân trong các tác phẩm của Elfried Jelinex…Đó là nhận xét của một số nhà phê bình chuyên nghiệp đối với các tác phẩm của các nhà văn lớn. Ở đây, tôi cũng chỉ đặt một vấn đề có thể có các mặc cảm bạo/khổ dâm trong các tác phẩm của Dương Thụy với tư cách một nhà văn, và hoàn toàn không nói gì về đời tư của chị Thụy mà cá nhân tôi không hề quen biết. Cũng xin nói thêm ở đây là việc tồn tại các liên tưởng khổ/bạo dâm trong tác phẩm hoàn toàn là điều bình thường và không có gì xấu. Nhà phê bình nghệ thuật Susan Sontag có câu thế này: Khiêu dâm chẳng có gì xấu cả. Xấu xa là tả về nó một cách tồi tệ. Sự vụng về, ngớ ngẩn của Dương Thụy trong việc mô tả cảm xúc và cả ức ẩn tình dục mới là điều đáng quan tâm. Ở Mỹ hàng năm người ta vẫn có giải thưởng trao cho các cảnh mô tả sex tồi tệ, vô duyên nhất trong các tác phẩm văn học và điện ảnh cũng vì thế.

Tuy nhiên, nếu điều này thực sự làm phiền lòng nhà văn Dương Thụy và những người yêu mến chị thì tôi cũng xin lỗi.

Nội dung thứ hai quan trọng hơn. Bạn Trang viết “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì? Mà sao anh không chọn sách giải trí cho nam giới lại chọn sách giải trí cho phụ nữ, lại còn phụ nữ Việt Nam (!), để rồi lại bực mình vì chúng mà tuôn xa xả trên blog như thế? Tôi chịu, không thể trả lời được, chỉ biết bắt chước người xưa tự bảo rằng mình không phải là người ta, sao biết cái bực của người ta”. Ở đây bạn Trang có một giả định ngầm hiểu là sách viết cho phụ nữ thì chỉ có phụ nữ mới nên đọc và nên nhận xét hay phê bình về nó. Nói theo kiểu Huệ Tử thì đàn ông không phải là phụ nữ nên không thể đánh giá chính xác tác phẩm dành cho phụ nữ. Giả định đó không hợp lý vì một tác phẩm được viết ra không có quy định ai là người được đọc hay nên đọc, và mỗi đối tượng đọc sẽ có cách hiểu và đánh giá khác nhau theo cảm tính và kinh nghiệm của bản thân. Lấy ví dụ cuốn Harry Potter vốn là sách dành cho trẻ con nhưng số người lớn đọc nó còn nhiều hơn số trẻ con (theo một bài báo link từ trang Arts & Letters Daily- Và tất nhiên các bài điểm sách trên báo về Harry Potter cũng không có bài nào do các cậu bé 15 tuổi viết cả). Các tiểu thuyết vốn được viết nhằm vào đối tượng bạn đọc là phụ nữ như của Jane Austen ngày nay trở thành các tiểu thuyết kinh điển được giảng dạy trong các trường Đại học và được nhiều chuyên gia có râu và không râu, mặc bra và không mặc bra phê bình, diễn giải. Thế nên ý kiến sách của gái là để gái đọc, giai có lén đọc thì không nên nói gì là hòan toàn không hợp lý. Lập luận của bạn Trang do đó thể hiện một sự thiếu hụt về logic.

Hơn nữa, những nhận xét của tôi là những nhận xét của một người đọc cụ thể, là đàn ông, 30 tuổi, phản ánh đánh giá của riêng tôi và hoàn toàn không quan tâm tới việc người đọc nhận xét đó phải tin vào nó. Một người đọc có thể cảm động và thích thú với “Oxford thương yêu”, có sao đâu, tôi không nghĩ mình có trách nhiệm phải thuyết phục anh ta/cô ta/ cháu bé là cuốn sách đó dở thế nào. Đơn giản, tôi chỉ nêu nhận xét của mình.

Còn những câu như “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì?” thì quả thực rất buồn cười, bản thân tôi vẫn đang tự hỏi câu đó từ 15 năm nay mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời (cũng không mong được ai trả lời giúp)
.

Nội dung thứ ba, có thể quan trọng hơn cả, là cách phản ứng trước một tác phẩm mà người đọc thấy là không hay trong thế giới Internet ngày nay. Theo bạn Trang, cách ứng xử hợp lý nhất khi thấy tác phẩm không hay (theo chủ quan) là không quan tâm tới nó, quẳng nó sang một bên chứ không cố đọc hết nó, rồi nếu có mà đọc thì đọc xong cũng cấm kêu, “xê ra cho người ta làm văn sĩ”. Phản ứng này của bạn Trang theo tôi là rất chủ quan và có tính áp đặt. Mỗi người đều có cách ứng xử riêng của mình khi đọc một tác phẩm hay dở (cũng như khi chọn một cuốn sách hay dở). Nói thực, đối với tôi, đọc một cuốn sách rất dở nhiều khi lại là một thú vui. Thú vui ấy lại càng thích thú trong trường hợp tác giả cuốn sách dở lại cứ nghĩ là mình viết hay. Trường hợp này cũng xảy ra trong điện ảnh. Các phim của đạo diễn Ed Wood được nhiều người xem rất hâm mộ vì nó quá dở nhưng đạo diễn thì luôn tin tưởng là phim của mình rất hay, và xem phim của ông, người ta sẽ được cười sảng khoái vì cái sự dở một cách hồn nhiên của nó.

Vì lý do tại sao người ta đọc sách dở thì có thể xem bài tiểu luận này “Why not the worst” trên tờ NY Times. Có đoạn như sau “Bad books have an important place in our lives, because they keep the brain active. We spend so much time wondering what incredibly dumb thing the author will say a few pages down the road. One caveat: As with bad movies, a book that is merely bad but not exquisitely bad is a waste of time, while a genuinely terrible book is a sheer delight.”.

Đọc sách dở cũng là một sự thích thú. Và việc nhận xét về nó thì vừa là một sự thích thú vừa có một ý nghĩa tích cực. Nếu không lầm thì bạn Trang cũng hay tham gia một diễn đàn (mở) mà trong đó có phương châm “making fun of stupidity”. Và tôi nghĩ rằng ắt hẳn bạn cũng đã từng có nhiều lúc cũng “making fun of stupidity”. So, it happened and happens all t
he time!

Quan trọng hơn, một tác phẩm chính thức ra đời thì công chúng có toàn quyền nhận xét về nó theo ý họ. Bạn lo ngại những nhận xét “sắc cạnh” có thể giết chết tác phẩm, hay cảm hứng của tác giả (còn cái ý bạn nêu ra “mạng sống của không chỉ một con gà” thì tôi hơi sợ nên xin không được đưa vào). Nhưng cái đáng quan tâm hơn là các nhận xét đó có chính xác không hay là có sai sót, và tác phẩm đó có thực sự hay, hấp dẫn hay dở theo chủ kiến của người viết. Những lời phê bình khen ngợi hay vuốt đuôi thì có quá nhiều rồi, và cũng không ít những lời chê ngớ ngẩn, vơ đũa cả nắm đối với các tác phẩm nổi nổi (hai loại này tồn tại trên cả báo chí lẫn trên các blog). Và tất nhiên cũng không thiếu những lời khen nửa vời, chê nhỏ nhẹ “thiện chí”. Nếu một nhà văn sợ các lời chê “sắc cạnh” đến thế thì có nên xuất bản tác phẩm của mình không vì một khi tác phẩm đó đã được xuất bản thì nó không còn là sản phẩm của riêng nhà văn đó nữa rồi. Với lại, những người phê bình (ở đây không chỉ tôi- tôi chỉ là người đọc sách) khi viết phê bình thì đối tượng họ nhằm vào không phải là các nhà văn, mà là những độc giả đã, đang, hay có thể đọc cuốn đó. Và vì thế trách nhiệm của một người phê bình không chỉ là giới thiệu những cuốn sách hay mà còn là trình bày quan điểm của họ với các cuốn sách mà họ coi là dở, nhưng lại đang làm mưa làm gió trên thị trường (hai ví dụ: Phạm Lưu Vũ từng có bài phê bình Totem Sói và phê bình cả việc không có nhà phê bình nào phê bình cuốn sách đó; nhà phê bình có lẽ là nổi tiếng nhất thế giới hiện nay là Harold Bloom từng phê phán hiện tượng Harry Potter một cách rất nặng nề cho dù sở trường của ông này là Shakespeare!).

Điểm cuối cùng là về tính chất của blog. Blog là một trang web cá nhân và người viết blog thể hiện quan điểm cá nhân của mình với đối tượng người đọc có thể là bất kỳ ai, một nhóm nhỏ hay chỉ riêng mình. Và tất nhiên người đó chịu trách nhiệm với những gì mình viết trên blog của mình. Như thế hẳn là đã đủ cho tính trách nhiệm cho việc khen/chê rồi. Nếu bạn đọc trên blog tôi cảm thấy những lời tôi nói là thiếu cơ sở, hàm hồ, vô tình hay thậm chí là “độc ác” thì đó là quan điểm của các bạn. Tôi không thể có ý kiến gì.

Entry này bắt nguồn từ Thư hàng tuần của Trần Thu Trang nhưng cũng không hẳn chỉ để trả lời bài trên blog và website của Trần Thu Trang. Rộng hơn nó thể hiện quan điểm của tôi về cách ứng xử xung quanh việc viết văn, đọc sách và đọc/viết blog.

Cuối cùng cũng mong rằng đây sẽ là trao đổi và bày tỏ ý kiến cá nhân chứ không phải là “khẩu chiến” hay “bút chiến” gì.

PS: Với các bạn comment phê phán tôi trên blog của bạn Trang, tôi cũng mong sẽ nhận được các ý kiến phê phán thực sự chứ không phải mấy câu vuốt đuôi kiểu: Ph.D mà hóa ra chỉ nghĩ được thế thôi…(nghe buồn cười lắm!).

Saturday, August 4, 2007

Chơi văn

Nhân chuyện văn sĩ trẻ và chick-lit, nói thêm một chuyện khác. Chuyện này nhân việc lúc nãy tớ vào trang web của Trần Thu Trang thấy có câu này “Nhưng do một số nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, tôi quyết định chọn tác phẩm sinh sau đẻ muộn [Phải lấy người như anh] để thực sự bắt đầu cho cuộc chơi văn chương của mình”. Và tớ nhớ ra rằng thỉnh thoảng đọc trên báo chí, các tác giả trẻ cũng hay nói một ý tương tự :“chơi văn chương”.

Dường như với họ, văn chương chỉ là để chơi? Hay là họ dùng chữ “chơi văn chương” thì sẽ có vẻ sang hơn, hoặc tạo cảm giác họ là người đa tài, chỉ ghé vào việc viết văn chút thôi mà đã làm được thế? Hoặc là vì họ không thấy tự tin vào khả năng và tác phẩm của mình, hoặc họ nói thế để tự cảm thấy yên lòng, để bào chữa cho việc họ chưa dành đủ thời gian và nỗ lực cho công việc viết văn? Có thể có nhiều lý do mà tớ không biết chính xác nhưng thực sự khi đọc thấy việc các nhà văn trẻ (thôi gọi là người viết trẻ cho các bạn ấy yên tâm mà có lẽ cũng chính xác hơn) có thái độ coi việc viết văn chỉ là “chơi văn chương” tớ cảm thấy có một sự thiếu nghiêm túc và chuyên nghiệp trong thái độ với công việc viết văn. Và còn thấy thiếu cả sự say mê nữa. Nếu như đúng là họ có thái độ thiếu chuyên nghiệp, thiếu nghiêm túc và thiếu cả say mê thì liệu còn có thể trông mong gì từ tác phẩm của họ? Nhớ cách đây lâu lâu, Cao Việt Dũng có bài viết trên VNN đại ý bảo là ở Hà Nội có quá nhiều những người chơi văn chương (hay nghệ thuật nói chung) trong khi lại có quá ít những người thực sự nghiêm túc với công việc văn chương (hay nghệ thuật nói chung).

Không nhất thiết người viết văn phải kiếm sống bằng nghề viết văn, thậm chí ở Việt Nam chắc hầu như chẳng có ai kiếm sống bằng việc viết văn. Nhưng thái độ với công việc viết văn cần được thể hiện nghiêm túc hơn. Việc những người viết văn đều bày tỏ rằng họ xem nhẹ việc viết văn (có thể trong thâm tâm họ không thế) hay tự phân trần rằng họ viết một cuốn tiểu thuyết nào đó một cách rất nhẹ nhàng như là một thú vui không phải là một tín hiệu tốt cho thấy lao động thực sự và nghiêm túc của họ. Kafka khi xưa là tiến sĩ Luật, kiếm sống bằng nghề mài đũng quần trong văn phòng và hầu như không xuất bản được một tác phẩm nào trong đời. Thế nhưng khi sáng tác, ông cực kỳ nghiêm túc, các bản thảo được ông sửa đi sửa lại hàng chục lần, các sáng tác của ông cũng thường xuyên được đọc cho bạn bè nghe để góp ý.

Xin trích một đoạn trong bài của chị 2 4 6- một người viết và blogger tớ rất nể trọng- bàn về tính chuyên nghiệp:

“Bạn nào đã xem phim HMRBL có thể còn nhớ cảnh chiếc xe ngựa đi qua một cánh đồng trải suốt một chân đồi rộng. Suốt buổi sáng hôm quay tôi đã đi nhặt rác trên cánh đồng (bất tận) đó. Lúc nhặt mới biết người ta vứt bao nhiêu bao ni lông ngoài đồng. Mọi người trong đoàn đều từ chối làm cái việc không mấy danh giá này, không ai đồng nghĩa việc đi làm phim với việc đi nhặt bao ni lông. Vì vậy, họ thiếu chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp không phải là hiểu nghệ thuật, có ý tưởng hay, tác phẩm đột phá. Ý tưởng, khi đến, hoặc đi, nó không màng tác giả của nó có chuyên nghiệp hay không. Người chuyên nghiệp là người thấy công việc mình đang làm là trung tâm của đời mình, ít nhất là trong lúc mình làm nó. Đủ gắn bó và trách nhiệm để đi nhặt bao ni lông trên cánh đồng, nếu mình quyết định điều đó cần thiết cho công việc, bất kể công việc đó hay hay dở.


Cúi nhặt bao ni lông trên đồng chỉ mỏi lưng thôi, chứ không khó. Nhặt bao ni lông trong một trang sách, giữa những chữ viết, ý nghĩ, hình ảnh, cấu trúc… thực khó hơn bao nhiêu lần. Đó là lúc tác phẩm cần sự chuyên nghiệp hơn lúc nào hết. Tác giả phải đứng lui ra để có được khoảng cách giữa mình và tác phẩm, phải dụi mắt, uống nước lạnh, để không đắm chìm trong tình yêu dành cho mọi thứ gì mình viết ra. Rồi lại phải đốt đi đốt lại ngọn đèn cầy bên trong lòng vì nó cứ hay tắt đi khi bụng mình đầy nước lạnh. Không có chút lửa cần thiết, tâm tưởng cũng u tối, theo một cách khác.

Tôi nói với cô bạn rằng tôi viết, nhưng không chọn viết là một nghề, và như vậy, khi tiểu thuyết đến giai đoạn cần sự chịu cực chịu khổ của một người xem việc viết là trung tâm của đời mình, nghĩa là cần đến một người chuyên nghiệp, thì tôi gặp mâu thuẫn mãnh liệt. Thật khó giải thích với mọi người, và với mình, rằng người ta có thể bỏ ra hai năm làm việc nghiêm túc cho một tác phẩm chỉ mang lại đủ tiền ăn sáng cho mấy mẹ con trong hai tuần. Còn nếu viết không phải để kiếm tiền ăn sáng, thì vì cái gì?

Chắc chắn là phải vì một cái gì khác rồi. Tôi biết nó là cái gì. Điều tôi không biết, đó là tình yêu đó – tạm gọi viết là một thứ tình yêu – nó là một chuyện may hay chuyện rủi.”



Bạn có thể cảm thấy mình chưa đủ tính chuyên nghiệp hay chưa sẵn sàng cho nó? Cũng tốt thôi nếu bạn thực sự hiểu được điều này. Nhưng nếu như một nền văn học mà trong đó đa số người viết văn đều ảo tưởng là “chơi văn” thì hay hơn, sang hơn so với “công việc viết văn” thì nền văn học đó là một nền văn học ngắc ngoải (cũng chính vì ý thức viết văn/thơ là để chơi mà các nhà nho thời xưa dù làu thông kinh sử, chữ nghĩa, nhưng hầu như không viết được cái gì dài dài đòi hỏi nhiều công sức. Quanh quẩn chỉ các bài thơ chén tạc chén thù, không “Thu hứng” thì cũng “Thu ẩm”, hết hứng với hết ẩm thì cũng hết thơ, nhưng xuân thu nhị kỳ làm và
i bài thơ là đủ thành thi sĩ!). Và chắc chắn là không có ý thức về tính chuyên nghiệp, người viết văn sẽ khó lòng tạo ra một sản phẩm độc đáo. Rất hiếm nhà văn viết tiểu thuyết vào các chiều chủ nhật mà lại viết ra được một cái gì đó có giá trị.

Saturday afternoon with Vietnamese Chick Lit

Một buổi chiều và tối thứ bảy đọc Vietnamese chick-lit trên Vnthuquan. Sau “Tìm trong nỗi nhớ”, hồi ức của cựu du học sinh ở tuổi 40 là hai cuốn chick-lit (dịch: văn cho gái) của một tác giả 8x và một tác giả 7x.

Cuốn 1 là “Phải lấy người như anh” của Trần Thu Trang.

Cuốn này mở đầu cũng không đến nỗi tệ nhưng càng đọc thì càng phô. Được cái đọc cũng buồn cười cho dù lý do buồn cười là vì nhiều cái phi lý, ngớ ngẩn trong đó. Từ trước, tớ vẫn có cảm tính với em One/Thiếu-iốt trên mạng và khá thích cái mục Thư hàng tuần trên blog của em ấy nhưng mà truyện này thì đúng là một soap opera ngớ ngẩn. Việc truyện này bán chạy và được nói nhiều thế trên báo chí cho thấy đúng là văn hóa đọc của Việt Nam có nhiều vấn đề, kể cả ở mức độ đại chúng. In any case, it's absolutely not well-written.

Ví dụ đọc đoạn văn như thế này thì tớ không thể không buồn cười: "Những sợi tóc ngắn bết trên vầng trán khôi ngô, đôi mắt nâu sau cặp kính và đôi môi mím chặt khiến anh mang một vẻ trầm mặc u uẩn như thể triết gia. Chiếc quần jeans hơi bạc, chiếc sơ mi kẻ sọc nhỏ bên trong và chiếc áo gió bên ngoài đều không có gì đặc biệt nhưng toát nên vẻ thanh lịch. Và nếu anh không gọi cà phê bằng tiếng Việt có lẽ mọi người vẫn tưởng anh là một khách du lịch Nhật Bản Hàn Quốc nào đó như khi mới bước vào."




Mà trong truyện này thì những đoạn văn kiểu kiểu thế, thậm chí còn nhàm và sến gấp bội lại hơi bị nhiều. Kể ra cũng có vài đoạn được được như khi tả cảnh ở Hội An. Vài đoạn thể hiện tâm trạng nhân vật cũng có thể coi là được. Nhưng plot của truyện thì rất ngớ ngẩn, rất có chất của một kịch bản phim truyền hình hạng B của Việt Nam.

Sau kết thúc fantasy của chị Thu Trang về một anh Việt Nam nhưng nếu không nói tiếng Việt thì mọi người sẽ tưởng là khách du lịch Hàn Quốc thì tớ chuyển sang fantasy của chị Dương Thụy về một anh Bồ Đào Nha có cách nói chuyện rất Việt Nam trong “Oxford thương yêu” (tên rõ kêu, theo style kiểu Chuyện tình Harvard). Oh, My God, "Oxford thương yêu" nước ốc gọi bằng cụ :(. "Phải lấy người như anh" ít ra còn có cốt truyện có thắt nút mở nút khiến tớ còn chịu khó đọc chứ "Oxford thương yêu" là một thứ phế phẩm lảm nhảm và tự huyễn hoặc. Ngày xưa hồi còn Hương Đầu mùa thỉnh thoảng đọc truyện ngắn của Dương Thụy cũng không đến nỗi nào mà sao sau 10 năm chị này không những không tiến bộ lại càng ngày càng phô phang, vô duyên và ngô nghê đến thế. Đến chịu với một số văn sĩ Việt Nam :(. Cứ lảm nhảm các câu chuyện ngớ ngẩn, những mẩu đối thoại không đầu không cuối như thế mà cũng thành tiểu thuyết quá bằng tè vào văn học. Mà tớ đọc một số truyện của chị Dương Thụy còn cảm thấy chị này hơi bị ẩn ức ám ảnh về sado-masochism, hoặc là fantasy về kiểu mẫu thiếu nữ ngây thơ và bướng bỉnh, luôn được đàn ông ngưỡng mộ hay thèm thuồng (thông minh thì tất nhiên rồi- là alterego của Dương Thụy mà lại).

Một chị văn sĩ 32 tuổi mà vẫn chọn alter-ego là thiếu nữ ngây thơ, trong trắng và tương đối đức hạnh nhưng vẫn khiến đàn ông dễ turn on- nhân vật này trong truyện còn rất thích được các anh gọi là Lolita bé nhỏ, lol (không hiểu chị Thụy đã đọc Lolita của Nabokov bao giờ chưa?). The unbearable lighness of stupidity?

Hôm trước nghe bạn nào bảo là ở nước Nam mình, ai viết đúng chính tả thì có thể thành nhà văn, mà sai chính tả thì thành nhà thơ. Kể cũng đúng. Mà chắc cũng chẳng cần viết đúng chính tả lắm vì đằng nào cũng có biên tập rồi, nếu biên tập có không để ý nữa thì bạn đọc chịu khó vậy. Chắc vì thế mà các nhà văn của chúng ta ít khi chịu học cách viết văn (cần gì học cũng đã là nhà văn/nhà thơ rồi).

Chọn một đề tài thời thượng (tình yêu du học sinh thời a còng ở một trường đại học uy tín hay quan hệ tình cảm của gái văn phòng thời mở cửa) xong rồi ngoáy bút hí hoáy là có thể thành nổi tiếng rồi.

Thursday, August 2, 2007

The Curious Incident of the Dog in the Night-time

The image “http://images.amazon.com/images/P/0385659806.01.LZZZZZZZ.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.


...là tên một cuốn tiểu thuyết mỏng (200 trang) đầu tay của nhà văn Anh Mark Haddon được xuất bản năm 2003. Cuốn này nhận được hai giải thưởng sách vào hàng quan trọng nhất ở Anh là giải Whitbread Book of the Year (giải này có lẽ chỉ kém giải Booker chút ít về tên tuổi) và giải Commonwealth Writers’ Prize. Cái tên cuốn sách, nghe hơi có vẻ là lạ, được lấy từ lời Sherlock Holmes trong một truyện ngắn của Arthur Conan Doyle. Và như bạn có thể đoán, cuốn tiểu thuyết này có hình thức của một cuốn tiểu thuyết trinh thám.

Nhân vật chính của “The Curius Incident” là Christopher, một cậu bé bị mắc chứng tự kỷ (autism). Cuốn tiểu thuyết được viết theo ngôi thứ nhất, là lời của cậu bé kể, với cách nhìn thế giới xung quanh theo cách nhìn của một người tự kỷ.

Nếu ai chưa biết bệnh tự kỷ là gì thì có thể google để biết thêm chi tiết, ở đây tớ chỉ nói sơ qua là bệnh tự kỷ là một chứng bệnh bẩm sinh khá phổ biến (có lần vào trang webtretho thấy ngạc nhiên về có nhiều người có con bị tự kỷ thế trong một topic về trẻ tự kỷ). Người tự kỷ hầu như không có khả năng cảm nhận được người khác nghĩ gì, cảm giác gì, và gặp rất nhiều khó khăn để có đối thoại được với người khác do họ không đoán được tư duy của người khác, không hiểu được các ngôn ngữ body language cũng như không hiểu được các khái niệm có tính trừu tượng. Đa số người tự kỷ có chỉ số thông minh thấp và gặp khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên cũng có nhiều người tự kỷ lại có thể có chỉ số thông minh cao hơn người bình thường. Và tỷ lệ những người có suy luận bằng hình ảnh và có khả năng tính toán siêu việt (ví dụ có thể nhẩm tính được 2 mũ 30 là bao nhiêu) dựa trên cách xử lý thông tin bằng hình ảnh (những người này gọi là savant) trong số người tự kỷ cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường. Một ví dụ của savant là nhân vật do Dustin Hoffman đóng trong phim Rainman (nhưng anh này là người tự kỷ hay không thì không chắc).

Quay lại với cuốn sách. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher phát hiện chú chó nhà hàng xóm bị giết. Vốn hâm mộ Sherlock Holmes, cậu bé tự kỷ quyết định điều tra về cái chết của chú chó này, bất chấp sự ngăn cấm của người cha. Và trong quá trình điều tra, cậu phát hiện ra nhiều điều bất ngờ. Và những bí mật đó đưa cậu đến một chuyến phiêu lưu- một chuyến đi nếu với người bình thường thì chẳng có gì đáng kể nhưng với một người tự kỷ, không hiểu gì về thế giới bên ngoài bản thân mình thì lại đầy những bất trắc và sợ hãi.

Bằng tài năng của mình, Haddon đưa người đọc vào thế giới của Christopher, cảm nhận được những gì Christopher nghĩ. Nhiều quan sát về cách nghĩ của Christopher rất thú vị. Ví dụ Christopher không hiểu được ý nghĩa của ẩn dụ vì chỉ có thể hiểu những gì trực tiếp nhìn thấy hay suy luận bằng logic. Ví dụ khi nghe ai đó nói câu thành ngữ tiếng Anh là “trông chàng ngon nghẻ như trái táo trong mắt nàng” thì Christopher sẽ không hiểu vì không thể hình dung được trái táo trong mắt ai đó thì có ý nghĩa gì?. Christopher cũng không bao giờ nói dối, không phải vì có ý thức gì về đạo đức (với cậu bé, những khái niệm như đạo đức, thậm chí cả tình yêu là quá trừu tượng, và không thể hiểu được) mà vì nếu nói dối, cậu ta sẽ phải hình dung ra những tình huống không tồn tại và điều đó làm cậu ta sợ hãi và đau đầu. Thế nhưng Christopher lại là một savant, có khả năng toán học rất tốt, và dự định một ngày kia sẽ vào Đại học và trở thành một nhà khoa học.

Đọc “The Curious Incident”, người ta dễ liên tưởng tới hai cuốn tiểu thuyết mà vĩ đại của thế kỷ 20, đều kể chuyện bằng ngôi thứ nhất từ những người có troubled mind: Đó là Âm thanh và Cuồng nộ của Faulkner và Bắt trẻ đồng xanh của Salinger. Và có lẽ còn một cuốn thứ ba (cuốn này có lẽ gọi là truyện vừa) cũng vĩ đại không kém là Của chuột và người của Steinberg trong đó một trong hai nhân vật chính là một chàng khổng lồ nhưng có đầu óc của một đứa trẻ (ghi chú: cả ba cuốn này đều đã dịch ra tiếng Việt). Và cũng như các cuốn trên, bên cạnh tài năng kể chuyện thì điều mà “The Curious Incidend” gợi ra là những cảm xúc có tính nhân đạo, xuất phát không phải từ phía những người “bình thường” tới những người “bất bình thường” mà là từ cách nhìn của những người “bất bình thường” về thế giới chung quanh và về những người “bình thường”. Để rồi người đọc nhận ra rằng bên trong những người “bất bình thường” ấy có những vẻ đẹp trong sáng, dễ thương mà chúng ta đã (sẽ) đánh mất và đã (sẽ) hoài nghi: tình yêu trong lành mà anh chàng thần kinh trong “Âm thanh và cuồng nộ” với người chị gái; tình cảm âu yếm cảm động của Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh” với cô em gái nhỏ hay sự gần gũi đầy thích thú của Christopher với chó và cả với con chuột cống cậu ta nuôi. Chúng ta vẫn bực bội, khó chịu với những đứa trẻ không chịu lớn lên hay những kẻ lập dị do bẩm sinh hay do lựa chọn, không chịu trở thành những người bình thường như chúng ta. Nhưng hẳn là sẽ có đôi lúc nào đó, nhiều người sẽ thầm muốn ước gì mình chỉ như những đứa trẻ, có thể nhìn thế gian bằng một cái nhìn trong lành và đơn giản, không phải cảnh giác và hoài nghi.

Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Mark Haddon (gần đây ông này mới xuất bản cuốn thứ hai). Mark Haddon đã có thời gian làm việc nhiều năm với trẻ em mắc chứng tự kỷ. Những quan sát về người tự kỷ trong cuốn sách này được nhiều chuyên gia về tự kỷ cho là chính xác. Nhưng cũng có một số chi tiết được coi là không đúng, nhất là đối với người tự kỷ savant chẳng hạn cách mà người tự kỷ savant tính toán các con số và phép tính p
hức tạp (ví dụ tính nhẩm ngay lập tức 678 * 715 là dựa trên việc xử lý hình ảnh trong não chứ không phải bằng logic như Christopher trong truyện). Hình như các bạn Nhã Nam cũng sắp dịch cuốn này ra tiếng Việt?

Monday, July 23, 2007

Entry for July 23, 2007

Phê bình văn học đứng ngoài “văn hóa đọc”?

The image “http://news.vietnamnet.vn/dataimages/200702/original/images1224517_T.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.


Ảnh: phóng viên Thanh Xuân trên blog của Thanh Xuân.

Bài phỏng vấn các nhà phê bình văn học của Thanh Xuân trên VTC. Tham khảo thêm trên blog của BooBoo.

Có đoạn này đáng chú ý khi phóng viên Thanh Xuân hỏi về việc một số NXB mua trang báo để giới thiệu sách do NXB đó phát hành. Hóa ra ở Việt Nam có hiện tượng này, giờ mình mới biết.

Trả lời phỏng vấn, tất cả các nhà phê bình đều ủng hộ việc này (dễ hiểu thôi). Phạm Xuân Nguyên còn khẳng định “Chuyện này ở nước ngoài đã có từ lâu, một tờ báo nào đó, một cây bút phê bình nào đó chỉ chuyên điểm sách cho một NXB nào đó.” Tớ không rành về tình hình xuất bản và báo chí ở nước ngoài nên không biết ông Nguyên nói thế có đúng không. Nhưng tớ nghĩ việc đó không đúng với các tờ báo uy tín như NYTimes hay The Guardian chẳng hạn.

Và ngay cả trong trường hợp nhà xuất bản bỏ tiền để tờ báo đăng bài giới thiệu sách của mình thì phải hiểu việc đó như một hình thức quảng cáo, và tránh để người đọc hiểu lầm giữa việc giới thiệu sách do nhà xuất bản tài trợ với các bài điểm sách công tâm, khách quan. Ví dụ có thể để một dòng chữ: Chuyên mục giới thiệu sách do NXB ABC hay Công ty XYZ tài trợ chứ không để lập lờ được.

Mà ở Việt Nam tớ cho rằng không phải các nhà xuất bản mà là các công ty sách như Nhã Nam, Đông A… mới là những người đứng ra mua như thế, có đúng không nhỉ?.

Trích:

“Tình trạng một số NXB mua hẳn một (phần) trang báo, và theo từng kỳ, báo giới thiệu vài quyển sách của NXB đó phát hành, anh (chị) nghĩ sao về điều này?



- Inrasara: Có chi to chuyện đâu. Đáng nói là bài giới thiệu được viết ra sao? Tụng ca tác phẩm nào? Rồi sau khi dụ người mua sản phẩm được quảng cáo đó, độc giả sẽ đọc và phản ứng thế nào? Chính điều đó mới thành chuyện.

- Nguyễn Chí Hoan: Tôi ủng hộ tán thành nhiệt liệt việc một NXB mua một trang báo cũng như việc một tờ báo bán một trang cho giới thiệu sách. Ít nhất việc ấy cũng còn nhắc người ta nhớ đến sách và việc đọc sách.

- Ngô Thị Kim Cúc: Về phía NXB, tôi thấy họ không có gì sai: ai làm ra sản phẩm cũng muốn quảng bá để sản phẩm đến được với người mua. Vấn đề ở chỗ các tòa soạn báo. Tòa soạn (hay nhà báo) có công tâm, có thực sự chịu trách nhiệm khi chọn sách để giới thiệu không? Tuy nhiên, người giới thiệu sách sẽ không giữ được uy tín với bạn đọc sau một số đầu sách không đạt chất lượng mà họ đã giới thiệu.

- Phạm Xuân Nguyên: Chuyện này ở nước ngoài đã có từ lâu, một tờ báo nào đó, một cây bút phê bình nào đó chỉ chuyên điểm sách cho một NXB nào đó. Cho nên ở ta nếu có hiện tượng một nhà xuất bản hay một nhà sách nào đó mua hẳn một trang báo để đăng các bài viết về sách của họ in ra thì tôi cho cũng là được vì như thế chứng tỏ cả bản báo, cả người làm sách đều có sự tin tưởng ở chính mình.

Còn có tin họ hay không thì đó lại là sự thử thách dành cho người đọc. Nếu qua một vài bài giới thiệu người đọc đi mua sách mà đọc thấy hay, thấy đúng như giới thiệu thì họ sẽ tin tờ báo đó, nhà sách đó. Nếu thấy bị lừa, bị hớ, họ sẽ “cạch mặt”, bỏ chơi luôn. “

Nhưng vấn đề quan trọng còn là cây bút nào viết giới thiệu sách, tức là NXB mời được, chọn được nhà phê bình nào viết cho mình. Khi đó nhà phê bình cũng sẽ phải chịu sự thử thách, nếu giới thiệu ẩu, tạp, thì uy tín, danh tiếng của họ sẽ đi tong.”

Một câu hỏi khác cũng đáng chú ý “Theo anh (chị) phê bình một chiều có phải là “bệnh” hiện nay?”. Nghe hơi buồn cười vì phê bình là phê bình chứ có phải hình học đâu mà cần 2 chiều, 3 chiều hay n chiều. Nhưng có lẽ ý của phóng viên ở đây là nêu tình trạng khen quá đà hay "đánh" một cuốn sách nào đó, bất kể giá trị của nó với người phê bình thế nào. Các câu trả lời nói chung không đi thẳng vào câu hỏi này trừ trả lời của Kim Cúc rằng đúng là bệnh.

Saturday, July 21, 2007

Zarathustra và Grenouille

img


“Ta gọi con người đích thực là kẻ bỏ đi vào trong những vùng sa mạc không Thượng Đế, là kẻ đập vỡ tan quả tim tín mộ của mình.
Bước đi trên cát vàng nóng bỏng, bị ánh mặt trời thiêu đốt, hắn thèm khát liếc nhìn những hòn đảo với những suối nước tràn trề, nơi mà đời sống an nghỉ dưới những chiếc cây đầy bóng mát.

Nhưng cơn khát của hắn không thuyết phục hắn trở thành giống kẻ an nhàn tự mãn đó; bởi vì nơi nào có ốc đảo xanh tươi thì nơi đó cũng có những thần tượng.

Đói khát, tàn bạo, cô đơn, vô tín ngưỡng, không Thượng Đế: đấy chính là ước muốn của ý chí con mãnh sư.

Giải thoát khỏi hạnh phúc của hạng nô lệ giải phóng khỏi những thần linh, khỏi những sùng bái ngưỡng mộ, không sợ hãi và kinh hoàng, cao cả và cô đơn: đấy là ý chí của kẻ chân thực.”

(Về những nhà hiền triết nổi danh- Zarathustra đã nói như thế, Nietzsche).

Đoạn văn này khiến tôi nhớ tới ai? Tới Jesus khi ông bỏ vào sa mạc, lòng đầy đau khổ và nghi ngờ. Đau khổ vì loài người và nghi ngờ về bản thân mình, và nghi ngờ cả về việc loài người có đáng được cứu vớt không. Khi Jesus trở lại thành phố từ sa mạc, ông tin là có Thượng đế và ông là con của Người, ông tin vào việc có thể cứu vớt loài người và họ đáng để cứu giúp và ông rao giảng một thứ tôn giáo dựa trên tình yêu và điều Thiện. Nietzsche hẳn không thể tha thứ cho Jesus về điều này. Theo Nietzsche, Jesus đã rất gần với con người Siêu Nhân- vượt lên trên cả Thiện và Ác, nhưng rồi ông lại chịu thỏa hiệp với đám dân chúng thấp hèn, đem rao giảng cho họ một thứ tình yêu và điều thiện một cách tầm thường. Có lẽ Nietzsche cũng nghĩ như Marx, tôn giáo là một thứ thuốc phiện cho nhân dân. Nietzsche căm ghét nó vì nó khiến đám quần chúng ngu muội càng thỏa mãn với việc làm nô lệ cho các thần tượng và khiến những kẻ trí tuệ nhất cũng nhụt chí, cam phận “kéo chiếc xe của dân chúng đi, như một bầy lừa”.


Đoạn văn này còn khiến tôi nhớ tới ai? Tới nhân vật Grenouille trong tiểu thuyết Mùi Hương của Patrick Sueskind. Cũng như Jesus, y đã từng bỏ đi rất xa, lang thang trong núi mấy năm trời để tìm cho ra mình là ai, và đâu là mục đích sự sống của mình. Nếu như Jesus có một Thượng đế và một sứ mệnh thì Grenouille là một kẻ đúng như Nietzsche mơ ước “đói khát, tàn bạo, cô đơn, vô tín ngưỡng, không Thượng Đế”. Nhưng cũng có thể coi là y cũng có một Thượng đế và một sứ mệnh. Có điều Thượng đế của Grenouille là Mùi Hương – là một thứ hương thơm tuyệt đích, khiến tất cả nhân loại phải quỳ gối cúi đầu tôn thờ nó. Và sứ mệnh của y là tìm được Mùi Hương đó, là chế ra nó- không phải là để cho nhân loại quỳ mọp dưới chân y (dù y cũng cảm thấy kích thích bởi ý nghĩ đó) mà vì đó là sứ mệnh của sự tồn tại của y. Một cái gì không khác được giống như khi Jesus tự nhận sứ mệnh con Chúa của mình trên thế gian. Và cũng như Jesus, y bị đám dân chúng mà y khinh bỉ bắt bớ, tra tấn rồi kết tội chết. Để rồi chính đám dân chúng đó lại quỳ mọp dưới chân y và tôn thờ y (có điều may mắn- hay không may mắn- cho y là việc đó diễn ra khi y chưa chết, khác với Jesus chỉ được tôn thờ sau khi đã bị đóng đinh).


Nhưng khác với Jesus, Grenouille thờ ơ tuyệt đối với Thiện và Ác. Đối với y, các khái niệm đó không tồn tại. Thật là một sinh vật hiếm có, thoát khỏi vòng cương tỏa của các khái niệm Thiện Ác ngay từ khi nó mới ra đời- Nietzsche liệu có vui mừng khi có những Siêu Nhân trở thành Siêu Nhân mà không phải đau đớn, dằn vặt chối bỏ, vượt lên trên Thiện và Ác?. Cuộc sống và cả cái chết của y là một sự nhạo báng kinh người đối với loài người, với việc làm nô lệ cho các thần tượng của loài người, với tôn giáo nhân danh tình yêu mà loài người bấu víu vào như là chỗ ẩn của lương tri và Cái Thiện.

Grenouille không phải Jesus, người vẫn tin vào Cái Thiện và dùng nó để cứu rỗi loài người. Grenouille cũng không phải Faust, kẻ sẵn sàng bán linh hồn cho Satan- Cái Ác- để có bằng được những gì hắn muốn có. Grenouille đứng trên Thiện và Ác. Jesus là con người (trước khi bị đóng đinh). Faust cũng là con người. Grenouille không phải là người theo nghĩa đúng của từ này. Có thể gọi y là Siêu Nhân hay là quái vật, có điều chắc chắn y là một kẻ phi-người.


Với bề ngoài của một tác phẩm thriller về một tên giết người hàng loạt, tác phẩm Mùi hương là một sự cười cợt, nhạo báng mang tinh thần Nietzsche đối với tôn giáo, với chính trị, với bản chất con người, với cả một điều mà loài người vẫn tôn thờ và coi là thiêng liêng nhất- Tình yêu. Grenouille có cái gì đó của Jesus, của Faust, thậm chí của cả Napoleon, Hitler hay Stalin…sự có mặt của y trong cuộc đời hẳn là một sự nhạo báng đối với bản chất con người, nhất là ở cái nhu cầu của loài người được đi tìm thần tượng ở những kẻ ít có điểm chung với con người bình thường nhất. Mang tinh thần Nietzsche nhưng có thể nhân vật Grenouille còn là một sự giễu cợt đối với chính Nietzsche với mơ tưởng của ông về những vị anh hùng đứng trên Thiện và Ác.


Các bài điểm sách đầy đủ về cuốn này: có thể đọc bài này của nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan và bài này của bác 5xu. Bài trên chỉ là tản mạn khi đang đọc Zarathustra đã nói như thế của Nietzsche thôi. Có thể là hiểu rất sai (cả Nietzsche và Sueskind).

Tuesday, March 6, 2007

Entry for March 06, 2007

Tham khảo thêm bài Kundera luận này


img
Joe Ciardiello

THE CURTAIN

An Essay in Seven Parts.

By Milan Kundera. Translated by Linda Asher.

168 pp. HarperCollins Publishers. $22.95.

Reading With Kundera

(NY Times Review)


Published: March 4, 2007

Milan Kundera (who writes these days in French) is perhaps the best, certainly the best-known, Czech fiction writer since Kafka (who was arguably more German than Czech anyway). This is his third book-length meditation on the novel, all three translated with precision and grace by Linda Asher. And while there is a fair amount of overlap and repetition in “The Curtain,” “The Art of the Novel” (1988) and “Testaments Betrayed” (1995), it’s due more to the consistency of Kundera’s approach to reading and writing fiction and the persistence of certain literary preferences and prejudices — his literary values — than to an inability to move on. It’s also due to his belief that reading and writing novels, from Cervantes to Rushdie, is a way of thinking that is essential for a coherent moral understanding of human nature and circumstance.

“The Curtain” is constructed much the same as its predecessors: a loose sequence of separately titled, more or less topically focused reflections that are each in turn broken into smaller segments with titles like “The Multiple Meanings of the Word ‘History’ ” and “Maximum Diversity in Minimum Space.” There is no formal argument to it, no narrative or plot, no overt organizing principle tying the segments and sequences together.

In Kundera’s hands, however, the bagginess of the form is appropriate. The book’s aphoristic, often flatly declarative style (Kundera has strong opinions on everything, from E. M. Cioran’s youthful flirtation with fascism to the difference between foolishness and stupidity) allows for an elegant, personalized integration of anecdote, analysis, scholarship, memory and speculation. This is not strictly or even loosely speaking literary criticism; nor on the other hand is it merely a meander through the mind of a philosophically inclined novelist. Kundera himself tells us how to read his book: “A novelist talking about the art of the novel is not a professor giving a discourse from his podium. Imagine him rather as a painter welcoming you into his studio, where you are surrounded by his canvases staring at you from where they lean against the walls. He will talk about himself, but even more about other people, about novels of theirs that he loves and that have a secret presence in his own work. According to his criteria of values, he will again trace out for you the whole past of the novel’s history, and in so doing will give you some sense of his own poetics of the novel.”

Not surprisingly, then, reading “The Curtain” is like spending a long desultory afternoon into the evening sitting over coffee and cigarettes in a pleasant cafe listening to Milan Kundera hold forth on history, literature, music, politics, large countries versus small, East versus West, the lyric versus the novelistic, Paris versus Prague and so on into the night. One has the impression that Kundera, at least on the page, is a fabulous talker and not an especially good listener. But he is 78 now, and he has lived through the military occupation and liberation of his country twice and has endured more than three decades of exile; he has written at least three of the most admired novels of our time, “The Joke,” “The Book of Laughter and Forgetting” and “The Unbearable Lightness of Being,” plus another half-dozen books of fiction. Kundera’s opinions, reflections, memories and desires are well worth listening to.

Besides, he is one of the most erudite novelists on the planet. Not since Henry James, perhaps, has a fiction writer examined the process of writing with such insight, authority and range of reference and allusion. For instance, while analyzing Tolstoy’s description of Anna Karenina’s suicide, he notes in a tossed-off, parenthetical aside: “Stendhal likes to cut off the sound in the middle of a scene; we stop hearing dialogue and start to follow a character’s secret thinking,” which leads him to speak of Anna’s last thoughts: “Here Tolstoy is anticipating what Joyce will do 50 years later, far more systematically, in ‘Ulysses’ — what will be called ‘interior monologue’ or ‘stream of consciousness.’ ” Which in turn leads him to observe that “with his interior monologue, Tolstoy examines not, as Joyce will do later, an ordinary, banal day, but instead the decisive moments of his heroine’s life. And that is much harder, for the more dramatic, unusual, grave a situation is, the more the person describing it tends to minimize its concrete qualities. ... Tolstoy’s examination of the prose of a suicide is therefore a great achievement, a ‘discovery’ that has no parallel in the history of the novel and never will have.” End of parenthesis.

In Kundera’s somewhat Eurocentric view, the novel is uniquely able to express a highly ironic “antimodern modernism,” a mode of disillusioned thinking that was fathered by Cervantes, who with Rabelais, Fielding, Sterne and Diderot established a lineage that is “suspicious of tragedy: of its cult of grandeur; of its theatrical origins; of its blindness to the prose of life.” Thus he finds more significant traces of Cervantes’s DNA in Fielding than in Balzac, and in Tolstoy more than Dostoyevsky. He
finds it mainly in the works of four 20th-century Central European writers whom he calls his “Pleiades” — Kafka, Musil, Broch and Gombrowicz — and more recently in the works of Grass, Fuentes, García Márquez, Goytisolo, Chamoiseau and Rushdie, as if there were among contemporary novelists a deliberate return to the source.

“The novel alone,” he says, “could reveal the immense, mysterious power of the pointless,” in opposition to the “pre-interpretation” of reality. The novel, in Kundera’s view, is not a genre; it’s a way of busting through the myriad lies regarding human nature and our collective and individual fates, lies that serve the purposes of bureaucracy and greed and the joyless quest for power. The “pre-interpretation” of reality is the curtain referred to by the book’s title, “a magic curtain, woven of legends ... already made-up, masked, reinterpreted. ... It is by tearing through the curtain of pre-interpretation that Cervantes set the new art going; his destructive act echoes and extends to every novel worthy of the name; it is the identifying sign of the art of the novel.” (The italics are Kundera’s. He is in fact rather fond of italics, giving to his words a sureness they might otherwise lack.)

He speaks approvingly but only in passing of Faulkner and Hemingway, and not at all of Twain, who surely ought to reside among his Pleiades, or the Melville who wrote “The Confidence-Man,” or any other of the many American writers working in the grand tradition of what he calls “the privileged sphere of analysis, lucidity, irony.” One could make a long list of Americans qualified to reside there: Hawthorne, James, Sinclair Lewis, Nathanael West, on to near-contemporaries like Donald Barthelme, Joseph Heller and Robert Coover, who surely were influenced by Kundera’s Middle European stars, Kafka, Musil, Broch, but who chose to drawl it out in American English, mixing syncopation and burlesque with “analysis, lucidity, irony.” If I have any quarrel with Kundera’s description of the history of the novel it’s that he’s not inclusive enough. He does not discuss a single female novelist, even in passing. It’s as if no Western woman has ever tried writing a serious novel in 400 years. And, in his appreciation of non-European novelists like Fuentes, García Márquez and Chamoiseau, he colonizes them, as if culturally they gazed longingly toward their European mother- and fatherlands instead of their homelands. But then, he’s not writing literary criticism; he’s writing the secret history of the novels of Milan Kundera and teaching us how to read them.

Thursday, February 15, 2007

Đọc Linh Sơn- Cao Hành Kiện

1. Lời cảm tạ của Cao Hành Kiện (với quốc vương Thụy Điển tại lễ trao giải Nobel văn học 2000).


"Quốc vương bệ hạ tôn kính,

Con người đang đứng trước mặt ngài hãy còn nhớ, anh ta hồi tám tuổi, bà mẹ bảo viết nhật ký, anh ta đã viết như thế này, và cứ viết mãi cho đến lúc trưởng thành.

Anh ta cũng còn nhớ, khi vào trường trung học, thầy giáo dạy tập làm văn treo lên bảng một tấm tranh quảng cáo, không nói đề mục, mọi người hãy viết về bức tranh này. Nhưng anh ta không thích bức tranh ấy, bèn viết một bài dài phê bình nó. Thầy giáo không những không nổi giận mà còn cho anh ta điểm cao, lại có lời nhận xét nữa: "Bút lực rất khỏe". Anh ta cứ thế tiếp tục viết, từ đồng thoại sang tiểu thuyết, từ thơ đến kịch, mãi khi cách mạng văn hóa tới, anh ta sợ quá, đốt hết toàn bộ.

Sau đó anh ta đi làm ruộng khá nhiều năm. Nhưng vẫn ngấm ngầm viết, đem bản thảo giấu vào trong hũ, chôn xuống đất.

Những tác phẩm anh ta viết sau đó lại bị cấm in.

Về sau, khi sang phương Tây, anh ta vẫn viết và không quan tâm tới việc xuất bản hay không. Dẫu xuất bản đi nữa, cũng không để ý là có phản ứng hay không. Bỗng nhiên lại được đến đại sảnh lộng lẫy này, để nhận từ trong tay quốc vương bệ hạ phần thưởng cao quý.

Thế rồi, không nén được, anh ta hỏi: Thưa quốc vương bệ hạ, đây là thực ư? Hay là câu chuyện đồng thoại?"

(In trong cuốn Linh Sơn- bản dịch của Hồ Quang Du).

Đọc bài này, không khỏi nghĩ, giá thử người thầy giáo trung học của họ Cao cũng theo thói thường tình, chấm bài theo đáp án mà cho Cao điểm thấp hay phê bình anh ta thì liệu Cao còn cảm hứng để sau này tiếp tục viết, “đem bản thảo giấu vào trong hũ, chôn xuống đất”. Và không biết nước Trung Hoa hơn 1 tỷ dân tới giờ liệu có người nào được tặng thưởng giải Nobel văn học hay chưa.

2. Về Linh Sơn

Nhớ khi mua và bắt đầu đọc Linh Sơn ở Việt Nam, thấy rất thích, bạn bèn nhắn SMS cho một số người: “Ấy/cậu/em đọc Linh Sơn chưa. Tớ/anh đang đọc đấy. Hay lắm”. Thế nhưng, cũng phải sau hai tháng, bạn mới đọc xong được cuốn sách có độ dày hơn 600 trang này, trong buổi tối cuối cùng của năm Tuất.

Có thể nói gì về Linh Sơn và Cao Hành Kiện? Bạn cảm thấy khó nhận xét về cuốn sách đó. Ngoại trừ bạn cảm giác đó là một cuốn sách rất đẹp, hơn nữa, như lời của Hội đồng trao giải Nobel 2000, đó là một cuốn sách tự nó làm thành riêng một thể loại. Gần đây, người ta thường nhắc tới các tiểu thuyết hậu hiện đại, nhưng trong số ít ỏi mà bạn đọc thì có lẽ “Đời nhẹ khôn kham” của Kundera và “Linh Sơn” của Cao Hành Kiện là hai tác phẩm mẫu mực, để lại ấn tượng cho bạn nhiều hơn cả.

Với Linh Sơn, bạn còn tìm thấy được một vẻ đẹp khó tả được của thiên nhiên, của nền văn hóa Trung Hoa giàu có, của lịch sử một nước Trung Hoa bạo liệt. Và không phải chỉ là nền văn hóa Trung Hoa của người Hán mà còn là nền văn hóa của người Miêu, của các dân tộc ít người trên vùng biên giới Tây Nam, vốn bị người Hán khinh rẻ và văn hóa Hán đè áp (giống như trong câu chuyện Cao kể vua Hoàng đế- thủy tổ người Hán- diệt Suy Vưu, còn vua Đại Vũ là kẻ đầu tiên bóp chết kẻ khác để thực hiện ý chí của mình).

Trước kia, bạn ngại đọc tiểu thuyết Trung Hoa hiện đại vì ghét cái tủn mủn, tiểu khí, hay thô tục trong đó- cái khí chất của một thùng phuy nặng mùi bí bách lâu ngày mới được (thỉnh thoảng) mở nắp. Nhưng với Cao Hành Kiện thì lại khác. Văn Cao Hành Kiện rất đẹp, phóng khoáng, lãng mạn dạt dào, lúc trầm mặc như bức tranh thủy mặc, lúc hào hứng, lúc huyền ảo mà có lúc lại rất phong tình, đôi khi có hóm hỉnh nhưng dư vị của hóm hỉnh vẫn là chua xót.

Nhân vật trong Linh Sơn đi tìm Linh Sơn, một ngọn núi thiêng trong huyền thoại. Đó là hành trình tìm về tự ngã của anh ta? Hay hành trình tìm về một cội nguồn văn hóa, về những khoảng thời gian đã bị đánh mất, những vẻ đẹp của quá khứ, những số mệnh đau khổ của con người bị đè nghiến, bị vùi dập, bị lãng quên trước những đổi thay của thời cuộc. Con người trong Linh Sơn thật cô đơn, dù họ có bấu víu, yêu thương hay hành hạ nhau thì họ vẫn cô đơn- nhưng phải chăng chỉ khi họ tự ý thức được sự cô đơn đó thì họ mới tìm được mình? Cũng nói thêm là những trang viết về giới tính, về nỗi cô đơn và ham muốn của đàn ông và đàn bà rất xuất sắc, nhân vật nữ trong tác phẩm của ông sinh động và giàu sức sống không kém nhân vật nam, trong khi lại vẫn có một cái gì đó huyền ảo (các đồng thoại Trung Quốc vẫn để những nhân vật nữ là các hồ ly tinh lấy chồng, sinh con nhưng vẫn bí hiểm một cách rất “hồ ly tinh” đó sao). Người đọc dễ đồng cảm mình với nhân vật nam nhưng lại hết sức cảm thông và thương xót cho nhân vật nữ của ông.

Con người đó có tìm được Linh Sơn không? Cao Hành Kiện trả lời bằng mấy câu kệ, mà ông cho là một ngạn ngữ cổ đã có từ mấy nghìn năm:

“Có cũng về,
Không cũng về,
Đứng ở bên sông gió tái tê”,

Khi ta biết là đã có thể “về” rồi, thì phải chăng lÃ
  ta đã tá»›i được Linh SÆ¡n? Hoặc là gần tá»›i chăng?

So sánh Cao Hành Kiện với các tác giả khác thì gần như không thể. Ông là một nhà văn thấm đẫm chất phương Đông và tính dân gian (bản thân ông cũng là một họa sĩ tranh thủy mặc), nhưng lại là người thử nghiệm một cách viết chịu ảnh hưởng của phương Tây, có lẽ ông là người đầu tiên chăng? Người duy nhất khiến tôi cảm thấy có gì đó gần gũi với Cao là Kawabata với những câu văn phảng phất như những bài thơ thiền, nhưng như kết tinh trong đó vẻ đẹp của nền văn hóa Nhật Bản, “đẹp và buồn”? Có lẽ, không phải ngẫu nhiên, mà Cao và Kawabata là hai người Trung Hoa và Nhật Bản đầu tiên được trao giải Nobel.

Biết đến bao giờ văn học Việt Nam mới đi ra được những tủn mủn của thời gian, của áp lực tên tuổi và một mảnh chiếu trên văn đàn để có được những tác phẩm đẹp và gợi cảm, kết tinh được cả một nền văn hóa đặc sắc như của Cao Hành Kiện hay Kawabata?

Cũng xin nói thêm về bản dịch. Như tôi được biết, có ba bản dịch Linh Sơn ra tiếng Việt, cũng là một hiện tượng hiếm hoi, phản ánh sự đánh giá cao của người Việt với Cao Hành Kiện và phần nào là sự tương đồng văn hóa giữa Linh Sơn với người Việt (thực ra bối cảnh Linh Sơn là vùng Tây Nam Trung Quốc- chính là địa bàn sinh sống của người Việt cổ khi xưa- bộ tộc Âu Việt của Thục Phán cũng xuất xứ từ vùng này mà tiến xuống phương Nam lập ra nước Âu Lạc). Bản tôi đọc là của Hồ Quang Du (không biết là ai, có hay dịch không) dịch từ tiếng Trung, và theo tôi, là bản dịch rất xuất sắc. Ngoài ra còn một bản dịch từ tiếng Pháp cũng tên là Linh Sơn của Trần Đĩnh (nghe nói cũng Việt hóa rất hay nhưng lại là dịch từ một ngôn ngữ trung gian) và bản tên là Núi Thiêng của Ông Văn Tùng.

Viết đã khá dài như vậy nhưng thực ra tôi có hiểu Linh Sơn không? Xin quote lại ba dòng cuối cùng trong cuốn sách thay cho câu trả lời.

“Vờ làm ra hiểu nhưng rốt cục vẫn chẳng hiểu.
Kỳ thực tôi chẳng hiểu gì, chẳng biết rõ điều gì.
Nó như thế đấy”.

Thế đấy!

Thursday, February 8, 2007

Giăng lưới bắt chim và Ngồi



1. Giăng lưới bắt chim- Tập tiểu luận của Nguyễn Huy Thiệp. Ban đầu, tôi không kỳ vọng gì nhiều vè cuốn sách này vì thấy có một số bạn chê nó. Hơn nữa, tôi hay có cảm giác là các nhà văn ở Việt Nam ít khi có thể làm được nhiều hơn một việc, do một cái dớp hay cái mặc cảm nào đó. Bảo Ninh cuối cùng cũng chỉ có Nỗi buồn chiến tranh. Chu Lai, Lê Lựu... đều lặp lại mình trong các trang viết. Nhưng có lẽ chính vì không có kỳ vọng gì nhều vào cuốn sách này, mặc dù nó mới được giải thưởng về lý luận văn học gần đây, nên nó lại là một sự ngạc nhiên khá thú vị. Tôi đã đọc hết cuốn này trên chặng hành trình 26 giờ từ Hà Nội tới Minnesota (cùng với vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và 100 trang cuốn O Zahir). Các nhận định về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp trong "Trò chuyện với hoa thủy tiên" (hình như cũng gây ầm ĩ một thời gian?) và vài bài khác khá thú vị, và đa phần, theo tôi, là chính xác. Mặc dù, có thể nói Nguyễn Huy Thiệp hơi ẩu về mặt tư liệu, (ví dụ trích dẫn nhận định của Khổng tử về tiểu thuyết nhưng mà lạy trời, thời Xuân Thu- Chiến quốc đâu có tiểu thuyết theo nghĩa như từ tiểu thuyết hiện nay, thêm nữa các trích dẫn của ông trong sách đều rất đại khái, rất khó kiểm tra là ông thực sự trích dẫn hay là bịa ra, đó là chưa kể một số sai sót về mặt tư liệu) và cảm tính trong các bài viết của mình. Các bài viết của ông, có lẽ nên xem là các mạn đàm trà dư tửu hậu về văn chương và về bạn văn, chứ không phải là các tiểu luận-phê bình văn học theo đúng nghĩa của nó. Nhưng các mạn đàm của ông nói chung đều thú vị và sâu sắc.

Đọc tập sách này cũng hiểu thêm chút ít về Nguyễn Huy Thiệp, ông có vẻ chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa dân gian, đôi chút của Nho học và Thiền học, và rất hâm mộ Nietzsche. Các chân dung văn học được ông đề cập tới đều là các nhà thơ dân gian như Đồng Đức Bốn (được ông coi là người làm hồi sinh thơ lục bát Việt Nam, kế tục sự nghiệp của Tản Đà, Nguyễn Bính và Bùi Giáng) và Nguyễn Bảo Sinh. Có hai câu thơ của Đồng Đức Bốn mà ông hay trích dẫn trong cuốn sách này :
"Xong rồi chả biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương"
Hai câu thơ phảng phất sự cô quạnh và bế tắc trong sáng tác, trong đời sống văn học ở Thủ đô, và có lẽ còn là sự cô quạnh và bế tắc của cả chính Nguyễn Huy Thiệp nữa.

2. Ngồi của Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết Việt Nam mới đọc gần nhất. Hôm trước vừa nói Thuận là tiếng nói lạ của văn học Việt Nam (dù không lạ lắm trên thế giới) nhưng đọc Ngồi thì mới thấy Nguyễn Bình Phương mới thực sự là tiếng nói lạ. Có thể nói Nguyễn Bình Phương là một trong số ít nhà văn Việt Nam để tâm và khá thành công trong việc cách tân hình thức của tiểu thuyết (trước đó có thể kể Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh và Nguyễn Xuân Khánh với Hồ Quý Ly). Tiểu thuyết của Phương pha trộn giữa hiện thực với tưởng tượng, không chú trọng nội dung của chuyện mà là cảm giác do nó mang lại tới người đọc. Đọc Ngồi còn thấy Nguyễn Bình Phương hình như muốn đưa ảnh hưởng của hội họa siêu thực, và âm nhạc với các tiết tấu, giai điệu khác nhau của câu chữ vào trong tiểu thuyết, nhằm tạo nên một ấn tượng về sự lùng bùng, bí ẩn, vừa pha trộn vào vừa tách bạch ra giữa thực và tưởng tượng/quá khứ/huyền ảo. Có gì đó hơi giống với bức tranh "Sự dai dẳng của trí nhớ" của Dali, trong đó có những chiếc đồng hồ bị kéo dài ra, dẹt lại, treo lủng lẳng trên cây, trong sự tĩnh tại của không gian xung quanh. Thời gian trong "Ngồi" đối với nhân vật Khẩn cũng là một thứ lùng nhùng như vậy. Người đọc khó phân biệt được trong các đoạn về chuyện của anh ta với một cô gái tên là Kim, đâu là tưởng tượng, đâu là giấc mơ khi ngủ, đâu là giấc mơ khi thức, đâu là quá khứ, đâu là huyễn hoặc...

Đọc xong Ngồi, nếu bảo review về nội dung của nó thì sẽ thấy rất khó, vì đây không phải là một tiểu thuyết theo nghĩa truyền thống, nó hơi giống với môt mảng cắt trong cuộc đời tẻ nhạt của một số viên chức bị lost in time, pha trộn thêm vào là những yếu tố huyền ảo. Những người đọc trẻ ở độ tuổi 8x có thể khó đồng cảm với nó, như Nguyễn Bình Phương tự nói, anh ta viết không cho những người trẻ tuổi, cách anh ta 10 tuổi hay hơn vì anh cũng không hiểu gì về họ cả. Trước Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài đã đề cập tới sự bế tắc, ngột ngạt và vô dụng của cuộc sống viên chức Việt Nam trong Marie Sến. Có điều Hoài viết về thời mới mở cửa còn Phương viết về những năm 2000, tức là chừng 15 năm sau. Thực ra cũng có thể tách Ngồi ra thành hai tiểu thuyết/truyện ngắn: một về đời sống viên chức/Đảng viên trong các cơ quan Nhà nước và hai về các ảo ảnh/tưởng tượng/hồi tưởng của nhân vật chính trong truyện.Và cả hai phần này, theo tôi, đều là những trang viết hay (và đẹp nữa, nhiều đoạn phiêu diêu có thể so với những đoạn văn đẹp nhất trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh)- nó vừa gợi lên một cuộc sống thô tục, tầm thường và đầy dục vọng trong đời sống thực (vô số các từ chửi bậy, các đoạn mô tả sex khá trần trùi), vừa gợi lên một thế giới huyền ảo, bí ẩn tồn tại song song. Nếu như Khẩn ừ ào ba phải, sống bừa bãi trong thế giới thực bao nhiêu thì trong thế giới huyền ảo của anh, anh lại là người thông minh và dịu dàng. Nếu ở ngòai đời, anh sống không hôn thú với Minh, quan hệ tình dục với đồng nghiệp Nhung, với cả người đàn bà bán khoai nướng, chưa kể vô số lần đi chơi gái, thì trong giấc mơ/hồi ức của mình với Kim, anh nhớ ra mình chưa bao giờ làm tình với Kim. Và cả hai phần đó trộn lẫn với nhau hình thành nên cuộc sống của Khẩn- một viên chức/ Đảng viên/quyền trưởng ban... có lẽ ở tuổi cuối 30 và đầu 40. Trong thế giới thực anh không biết mình cần gì, tìm gì. Trong thế giới ảo, anh biết mình có Kim.

Ấn tượng chung sau khi đọc cuốn này là Nguyễn Bình Phương là một tác giả đáng đọc, mặc dù có thể không phải cho mọi người, nhất là n
hững người chờ đợi ở tiểu thuyết một câu chuyện có tính truyền thống, hay những kết luận đã có từ trước.

Có vẻ như Nguyễn Bình Phương và Thuận hiện đang là hai cái tên đáng kể nhất trong văn học Việt Nam vài năm qua, là những người đủ công lực và tự tin để tạo ra một hướng đi mới và riêng cho mình, khai thông dòng chảy văn học Việt Nam vốn tù đọng trong chừng 15 năm gần đây. Họ cũng là những người viết cần mẫn, với 4-5 tiểu thuyết trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

Saturday, February 3, 2007

T mất tích và Paris 11/8

Hai cuốn này của Thuận cũng là những cuốn tôi tranh thủ đọc khi ở Việt Nam. Đã nghe tới tên tuổi Thuận từ khá lâu nhưng giờ mới đọc.

Đọc xong thì lại không biết nói thế nào về hai cuốn này. Thực sự, tôi thích T mất tích hơn, chính sau khi đọc xong cuốn này tôi mới tìm các cuốn khác của Thuận, nhưng chỉ tìm được Paris 11/8 mà không thấy Chinatown.

T mất tích là một tình huống kiểu Kafka: Một ngày kia một anh chàng người Pháp ngủ dậy và phát hiện ra vợ mình- một cô T nào đó người Việt Nam đột nhiên mất tích (so sánh: anh chàng K của Kafka tự nhiên bị kết án là có tội). Và bắt đầu từ quá trình tìm kiếm T và lo đối xử với những phức tạp nảy sinh trong cuộc sống liên quan tới việc T mất tích mà anh chàng kể chuyện không tên kia liên tục có những suy tưởng nối tiếp, sâu chuỗi với nhau theo kiểu nhân vật K trong Vụ án của Kafka. Nhiều suy nghĩ và liên tưởng khá thú vị thể hiện khả năng quan sát tinh tế của tác giả, cách dùng văn của người viết cũng dễ chịu, tạo điều kiện cho độc giả theo dõi được quá trình đó. Nói chung là cách viết khá mới lạ (ở Việt Nam).

Nhưng rút cục lại thì tôi vẫn chưa hiểu rõ lắm ý đồ của tác giả: Phải chăng Thuận muốn nêu lên những tình huống con người, tưởng gần nhau mà thật xa nhau trong thế giới hiện đại, khi mà một ngày kia bạn chợt phát hiện là những người mà bạn tưởng như hiểu rõ, thân quen như đồ vật xung quanh bạn thật ra lại không phải là như vậy? Một tình huống alienation giữa người với nhau, như các vật thể rời rạc được nối với nhau bởi một số các sợi dây nào đó nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết được chính xác các sợi dây đó là gì, và thực sự là sợi dây nào trong số đó mới đóng vai trò liên kết giữa bạn với những người kia?. Và rút cục lại, có thể đó lại là câu hỏi tự vấn: thật ra, chúng ta là ai, và vai trò của chúng ta như thế nào trong cái mớ bùng nhùng mà người ta không biết và không hiểu gì nên đành lấy đại một danh từ ra để gọi chúng- xã hội con người?

Paris 11/8 lại là một câu hỏi tự vấn tương tự nhưng về cuộc sống của những người Việt tha hương ở trên đất Pháp. Rút cục họ là ai, họ thuộc về đâu, cái gì đã làm họ đến một nơi xa xôi thế, và cái gì đã giữ họ ở lại đó? Tác giả đem tương phản cuộc đời của hai nhân vật nữ, một xinh đẹp, một xấu xí, cùng vật lộn với đời sống trong một xã hội xa lạ- hay đúng hơn là không phải vật lộn mà là cùng để bị cuốn trôi bởi cuộc sống. Hình như không có chỗ nào trong đó tác giả cho các nhân vật tự vấn mình, tự hỏi mình những câu hỏi như họ là ai, họ thuộc về đâu, tại sao họ lại làm thế? Phải chăng, ý của Thuận là muốn qua đó để phản ánh sự nhạt nhẽo của kiếp người, và con người rút cuộc chỉ là những con rối cứ bị cuốn đi theo đà quay của số phận và hoàn toàn thờ ơ ngay cả với chính bản thân mình?.

Tuy nhiên, đó chỉ là các liên tưởng mơ hồ của tôi chứ không dám chắc là dụng ý của tác giả. Dù sao thì cũng có thể coi Thuận là một tiếng nói khá mới mẻ và tương đối thú vị trong văn học Việt Nam hiện nay cùng với các cuốn sách của cô. Liệu có thể ví Thuận như một Kundera của Việt Nam, cũng với nỗi suy ngẫm về kiếp người và khả năng quan sát, liên tưởng, phân tích tâm lý tinh tế, nhưng thiếu đi tính triết lý cùng sự tự tin và khéo léo của Kundera trong việc xây dựng các tình huống con người?

Paris 11/8- tên sách nhớ lại ngày 11/8/2003- tức là 4 ngày sau khi tôi rời khỏi Paris trong trận nóng kinh khủng khiến hơn 4000 người Pháp chết. Giờ đây, tôi có còn nhớ gì về Paris hè 2003, ngoài những ấn tượng tuy không quên nhưng cũng mờ dần và mất dần các cảm giác về nó ?


Hạt cơ bản và Ba người khác

Thử điểm qua đôi chút về hai cuốn sách gây ồn ào dư luận Việt Nam trong thời gian qua mà tớ đã kịp tranh thủ đọc trong thời gian ở Việt Nam: Hạt cơ bản của Houellebecq và Ba người khác của Tô Hoài. Hình như là hai cuốn duy nhất được dành riêng hai cuộc hội thảo, một do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức và một do L'Espace tổ chức.

Về Hạt cơ bản của Houellebecq do Cao Việt Dũng dịch, được biết cuốn sách này rất có tên tuổi ở Pháp (trong khi lại bị chìm nghỉm trong số các tác phẩm văn học dịch ở Mỹ- tất nhiên người Mỹ và ngời Pháp từ xưa vẫn có sở thích và tư duy nghệ thuật hơi khác nhau). Cao Việt Dũng cũng được coi là một dịch giả trẻ nhiều triển vọng nhất- nhớ đọc trong một bài báo nào đó phỏng vấn Dương Tường thì chỉ có Cao Việt Dũng là dịch giả trẻ duy nhất được Dương Tường đánh giá cao và kỳ vọng trong số những cái tên khác được nhà báo nhắc tới như Ngọc Cầm Dương, Lê Quang, Lương Việt Dũng...

Quay trở lại nội dung cuốn sách, tôi hiểu cuốn sách như một lời phê phán đối với xã hội phương Tây thời hiện đại và Houellebecq đang lập lại tiếng kêu của Spengler thủa nào "Phương Tây đang suy đồi". Nguyên nhân sự suy đồi ấy được Houellebecq lý giải như là kết quả của cuộc cách mạng tình dục của thế hệ 68, đã khiến cho loài người lại trở về với trạng thái cạnh tranh tình dục giống như ông cha ta thủa hoang sơ. Nhưng nếu như thủa hoang sơ thì sự cạnh tranh tình dục chỉ nhằm mục đích tiến hóa thì trong thời hiện đại, sự cạnh tranh tình dục đóng vai trò là nòng cốt cho sự định hướng và phát triển của xã hội- nói cách khác xã hội phương Tây được quy định và tạo khuôn từ những cá thể có nhu cầu và khả năng tình dục mạnh mẽ và rút cục tất cả các vấn đề của xã hội đều được quy về khái niệm tình dục. Trong xã hội không có chỗ cho những con người "siêu nhiên" như Nietszche từng mơ ước (hình mẫu là Micheal, một người không có nhu cầu tình dục), cũng không có chỗ cho những kẻ khốn cùng, thừa ham muốn nhưng lại thiếu khả năng và sự hấp dẫn tình dục như Bruno. Những kẻ như thế có thể có chỗ đứng và thậm chí được xã hội tôn vinh trong các thời đại của Lý trí, thời đại của Đức tin như trong quá khứ nhưng lại không thể có chỗ đứng trong thế giới tiêu thụ hiện đại. Và sự suy đồi của phương Tây sẽ xảy ra khi cuộc cạnh tranh tình dục được đẩy tới vô cùng, phá vỡ tất cả những nền móng lý trí, đạo đức, tôn giáo.. được tạo ra trong hơn 2000 năm qua.

Vậy một xã hội tương lai là gì? Houellebecq không đi xa hơn Huxley trong Brave New World
(thực tế Houellebecq nhắc tới Huxley khá nhiều trong cuốn này, coi ông ta như cha đẻ tinh thần cho các hội đoàn tự do tình dục). Từ những năm 30 thế kỷ trước, Huxley đã tưởng tượng tới một xã hội vô cảm, gần như phi tình dục (đúng hơn là có tình dục nhưng tình dục đã trở nên nhạt nhẽo và tầm thường như việc đánh răng vào buổi sáng), nơi con người được sản xuất hàng loạt trong phòng thí nghiệm, với các tính năng và trí tuệ được xác định từ trước (nói thêm -về mặt ý tưởng, Huxley là một người rất xuất sắc mặc dù văn ông này thì đọc rất chán, nhạt chưa từng có, có thể nói là một nhà văn tồi). Xã hội tương lai của Houellebecq cũng gần như y hệt, nên ý tưởng này có thể được coi là mới lạ với người đọc Việt Nam vốn chưa được tiếp cận với Huxley chứ thực ra cũng chẳng có gì mới mẻ cả.

Đi xa hơn, có thể hình dung Houellebecq như một nhà văn bảo thủ mới, một nhà bảo thủ khá kỳ quặc, người lên án xã hội tiêu thụ, sexually-oriented cùng tất cả các trào lưu tưởng như ngoài lề nhưng lại phản ánh định hướng xã hội và tiên đoán cho sự suy đồi của nó (từ những-người-sáu-tám hippie của những năm 68 cho tới phong trào new age gần đây). Quay trở về với tình yêu và đạo đức xã hội có thể là những điều mà tác giả ngầm gửi gắm mặc dù bản thân ông ta cũng hoang mang về khả năng đó. Tình yêu chỉ là một sự an ủi cho những kẻ bị gạt ra ngòai lề xã hội (giống như tôn giáo trước kia?) chứ không cứu được số phận của họ.

Cảm giác chung của tôi về cuốn sách này là có một số điều thú vị nhưng nhìn chung tôi không thực sự thích nó, nhất là cái tính lên gân cường điệu hơi có vẻ trí thức Gô-loa. Cái chất hài hước đen cũng hơi sỗ sàng quá với người đọc. Nhưng có lẽ ở một đất nước hiếm hoi nơi các nhà văn được coi như một thứ celebrity thì văn phong hơi có phần trưởng giả, ngạo nghễ, bề trên của Houellebecq được độc giả chào đón nhiệt liệt là có thể hiểu được. Hơn nữa, người Pháp thực sự tin là nước họ (và châu Âu) đang suy đồi, trong khi người Mỹ với sự tự tin vốn có, không nghĩ vậy.

Về chất lượng bản dịch, tôi không biết tiếng Pháp để đọc nguyên bản nên không có gì để nói nhiều. Nhưng nếu Cao Việt Dũng dùng tiếng Việt nhuyễn hơn một chút thì có lẽ sẽ xứng đáng hơn với các kỳ vọng của Dương Tường dành cho Dũng chăng? Vì rằng đúng như Dương Tường nói, Cao Việt Dũng là một dịch giả trẻ hiếm hoi có phông văn hóa rất đáng nể và với lòng yêu nghề đáng khâm phục (cứ căn cứ vào số lượng các tác phẩm mà Dũng dịch trong thơi gian qua cũng có thể thấy được điều đó.

2. Ba người khác

Nếu như Hạt cơ bản là về sự suy đồi của xã hội phương Tây, thì Ba người khác lại đề cập tới một sự suy đồi khác, một sự tha hóa khác, đó là sự tha hóa của một xã hội châu Á trong dòng thác cách mạng. Dòng thác ấy cuốn băng đi các giá trị cổ truyền, biến tất cả trở về với số không. Và có gì đó rất gần với Hạt cơ bản, đó là khi hệ thống các giá trị đạo đức xã hội từng được thiết lập hàng nghìn năm bị cuốn phăng đi thì chỉ còn lại con người với những bản năng muôn thủa trần trụi của họ. Và còn lại là tình dục, tình dục, tình dục. Hay nói như Tô Hoài là “sinh hoạt như gà”. Trong cái nền mờ mờ, nhập nhoạng của thời buổi chẳng ai biết cái gì, tin cái gì ấy thì cũng diễn ra các cuộc cạnh tranh tình dục giữa các con đực và con cái: giữa Đơm và Duyên, giữa Bối, Đình và Cự.

Và dòng thác ấy ở Việt Nam chính là cải cách ruộng đất. Ngòai cuốn Mảnh đất lắm người nhiều ma và Những thi
ên đường mù có đề cập đôi nét tới cải cách ruộng đất (nhưng nghiêng nhiều hơn tới các hậu quả của nó về sau) thì đây là cuốn sách đầu tiên tôi đọc lấy bối cảnh hoàn toàn là cuộc cải cách ruộng đất. Đọc cuốn này mới biết tới các khái niệm rễ, chuỗi, tới mối quan hệ giữa đội cải cách và rễ, chuỗi. Với giọng văn tưng tửng như của người ngoài cuộc (trong khi thực ra Tô Hoài lại là người trong cuộc hiếm hoi- và nhân vật Bối có khá nhiều điểm chung với tác giả), Tô Hòai đã vạch trần được sự giả dối, vô phương hướng, và hơn cả là sự tha hóa của con người trong thời cải cách đó.

Văn Tô Hoài giản dị, hơi tưng tửng nhưng có chiều sâu và sự thâm thúy ẩn trong đó, không điệu đà như Nguyễn Tuân hay giàu cảm xúc cá nhân như Nguyên Hồng. Về tư cách của ông trong Cải cách ruộng đất hay Nhân văn giai phẩm thì cũng có người nói thế này, người nói thế kia nhưng với Ba người khác, cùng với hai cuốn hồi ký Chiều chiều và Cát bụi chân ai thì có thể nói, hiếm có nhà văn Việt Nam nào dũng cảm và “thành ý” (thành thật với chính mình) như Tô Hoài. Ông từng nhận mình ngủ với Xuân Diệu trong Cát bụi chân ai, và có chung chạ với “rễ, chuỗi” khi làm đội cải cách, “sáng tác” các lời cung của tù nhân khi làm chánh án tòa cải cách (xem phần phát biểu của Tô Hoài trong tọa đàm về Ba người khác trên talawas). Trong sách Đại học có câu Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm là bốn bước để tu thân. Xem ra thì ở Tô Hoài, tuy trong đời không phải lúc nào ông cũng giữ được đạo làm người quân tử, hay là người kẻ sĩ nhưng đến cuối đời, lại là một người hiếm hoi làm được điều đó.

Nói chung, đây là một cuốn sách đáng đọc, không chỉ về giá trị văn học mà còn về giá trị lịch sự của nó khi nhìn lại về một thời kỳ “tha hóa” của đất nước.


Thursday, February 23, 2006

Kitsch và toàn trị

Trong cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết, Kundera có nhắc tới truyện Bay trên tổ chim cúc cu của Kent Kesey. Khi nhân vật chính trong truyện tìm ra cách giải phóng cho những bệnh nhân tâm thần của trại điên, bị hành hạ và khủng bố bởi mụ y tá trưởng trại thì ban đầu những người này tỏ ra vui sướng nhưng rất nhanh sau đó lại sợ sệt và không dám đi ra ngoài. Họ sợ hãi trước thế giới bên ngoài mà họ không biết và không hiểu. Và họ chọn cách ở lại với sự an toàn và nỗi sợ hãi và ty tiện đưọc biết trước hơn là tự do và những trắc trở của nó. Kundera so sánh những bệnh nhân này với người dân của nước Nga, những người dường như lựa chọn chấp nhận chế độ toàn trị và cảnh sát "của mình" - một chế độ mà chính người Nga tự mỉa mai là "they pretend to pay us and we pretend to work"- hơn là tự do. Tất nhiên, lỗi không hoàn toàn là ở họ, nhiều kẻ trước khi vào trại điên vẫn hoàn toàn bình thường, còn người “tỉnh táo” và mạnh mẽ nhất trong trại điên của Kesey phải nhận lấy một kết cục bi thảm, bị biến thành một cái xác chết vật vờ sống thực vật.

Trong phim The Shawshank Redemption cũng có chuyện kể những người tù được ra khỏi tù đều sợ hãi vì thế giới bên ngoài xa lạ và nằng nặc xin ở lại trong tù. Một người trong số đó cuối cùng đã phải tự treo cổ sau khi được tự do.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người cộng sản tỏ ra rất thích câu nói của Marx (?) "Tự do là nhận thức được sự tất yếu", diễn đạt nôm na là biết được vùng vẫy đến đâu trong sợi dây trói "tất yếu". Tất nhiên, kẻ nào vùng vẫy mạnh quá, hoặc quá ngây thơ không nhận ra dây trói hoặc ngược lại, gọi đích danh nó là sợi dây trói thì chẳng sớm thì muộn, sẽ không còn cơ hội được hưởng "tự do" rồi!. (nói theo kiểu chính trị viên, anh không xứng đáng được hưởng tự do vì anh không biết quý trọng tự do mà anh có được nhờ công ơn của abc)

Sự giả dối, suy cho cùng vừa là hệ quả vừa là bạn song hành của sự hèn nhát và nỗi mặc cảm mà thôi. Nó sinh ra từ hèn nhát và mặc cảm và tồn tại để che giấu cho chúng. Hay sử dụng một định nghĩa từ của Kundera, thì nó là một sản phẩm kitsch tồi tệ nhất mà đến lượt mình, sẽ đẻ ra vô số những cái kitsch khác, những thứ giả nghệ thuật, giả cảm xúc, giả nhân văn, phục vụ thói quen ăn sáng.

Một chủ đề khác mà Kundera đề cập tới là tội lỗi tưởng tượng. Một buổi sáng đẹp trời hay xấu trời nào đó, nhân vật Joseph K của Kafka tỉnh dậy và bị kết tội. Và anh ta cứ hoài hơi đi tìm tội lỗi của mình như để xác nhận sự thống nhất và hợp lý của thế giới mà anh ta đang sống. Việc phủ nhận tội đó dường như là một cái gì đó vượt ra khỏi khả năng nhận thức của anh ta, vì nó đe doạ tính hợp lý của thế giới mà anh ta đang sống và coi mình là một thành phần. Nói như Kundera là "kẻ bị kết tội đồng cảm và đồng loã với tên đao phủ". Tuy ẩn ý của Kafka phức tạp và có thể có nhiều diễn giải trong các môi trường khác nhau nhưng dường như có nhiều sự tương đồng hơn giữa Joseph K với thân phận của những người sống trong các xã hội toàn trị nơi cá nhân không tồn tại, con người chỉ là một cái mắt xích trong một bộ máy khổng lồ và người ta ít xa lạ với những thứ khá quái gở như "tự phê bình" "kiểm điểm"...

Nếu như Kafka nói tới tội lỗi mặc định thì Orwell nhắc tới sự lãng quên trong một xã hội phi cá nhân, nơi những ký ức bị nhào lặn và xuyên tạc. Lịch sử trở thành một công cụ của chính trị. Và khi người ta đánh mất lịch sử, khi ký ức không còn tồn tại nữa thì tất cả các cá nhân sẽ giống hệt nhau, tất cả các nền văn minh sẽ đều cùng một khuôn và mọi lời nói dối sẽ trở thành chân lý, hay nói chính xác hơn là người ta sẽ không còn hoài công tìm cách phân biệt lời nói dối với sự thật làm gì nữa. Hay hiểu như Descarte thì con người hiện đại sẽ chết đi vì lúc đó không còn có chuyện "tôi suy nghĩ là tôi tồn tại" nữa. Chính vì thế sự phản kháng của Winston trong 1984 không phải là cố gắng căm ghét Big Brother hay bằng những hành động bất tuân lệnh và truỵ lạc nho nhỏ như người tình Julia của anh. Winston tìm đến quá khứ, coi đó là điểm níu duy nhất để giữ lấy nhân cách "con người".

K. của Kafka vẫn còn là một con người cá thể với những mục đích và ý nghĩ của riêng mình (tuy rằng luôn phải làm tình với vợ trước sự chứng kiến của hai gã giúp việc) nhưng tới Orwell, con người cá nhân và sự riêng tư đã bị hoàn toàn triệt tiêu. Các nhân vật của Orwell cũng luôn cảm thấy có tội nhưng không chỉ có vậy, họ còn bị tước đoạt đi cảm xúc thật và suy nghĩ của riêng mình bằng những bài luyện tập kiểu 10 phút Căm ghét mỗi ngày. Họ bị bắt buộc phải có cách nghĩ nước đôi (doublethink) để tồn tại (Một ví dụ về cách nghĩ nước đôi mà người ta dễ mắc phải, một mặt tôi thấy việc đưa và nhận hối lộ là xấu, một mặt tôi thấy nó là hợp lý và tôi vẫn làm việc đó mà không một chút hổ thẹn và không thấy là nó xấu vì "tất cả đều làm thế").

Điều đáng sợ của một xã hội như vậy là gì? Là việc tất cả đều "pretend": Chúng tôi pretend làm việc và họ pretend trả lương. Đảng pretend là đại diện cho giai cấp vô sản và chúng tôi pretend là chúng tôi tin điều đó.Giống như một vở hài kịch. Nhưng trong một vở hài kịch thì người ta sẽ cười. Trong vở hài kịch-cuộc sống này thì người ta không được phép cười và sự giả tảng đó cũng được coi (một cách giả tảng, tất nhiên) như điều thiêng liêng. Người ta vẫn có thể dung thứ cho sự tồn tại của anh nếu anh căm ghét hay hờn dỗi họ (thậm chí anh còn có thể trở thành celebrity trong một chừng mực nào đó) nhưng họ sẽ không để cho anh cười cợt vào mũi họ, nói với họ là họ đang "diễn". Nói cách khác, anh sẽ bị bắt buộc phải đóng vai diễn viên và cùng diễn với họ chứ không được phép làm khán giả.

Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm văn học "cười cợt" ở nước Nga chỉ dừng
lại ở Bulgakov từ những năm 30. Và ở Việt Nam thì nền văn học "cười cợt" ấy cũng chấm dứt ở Vũ Trọng Phụng. Những nhà trào phúng không có chỗ trong một xã hội tập thể.
Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ đều phải khoác một bộ mặt nghiêm túc nhất khi đi theo cách mạng. Và người Việt Nam đành phải cười cùng một nhà văn sống ở một nước tư sản là Azit Nexil. Ngay cả trong 20 năm gần đây, trong khi có rất nhiều chua cay, hờn giận, buồn tủi, đau thương thì cũng không có người viết nào biết cười cợt cả, có lẽ chỉ có Nguyễn Việt Hà là tiến gần nhất tới một nụ cười. Thế mà sao cụ Nguyễn Văn Vĩnh từng bảo dân mình cái gì cũng cười được. Nhưng mà cũng đúng, vì cái gì cũng cười được nên không hiểu được ý nghĩa và sức mạnh của nụ cười và sự hài hước, nhất là hài hước đen- cái mà người Việt luôn thiếu..

Trong chương The Grand Inquisitor ở cuốn Anh em nhà Kazamazov của Dostoievski, viên Grand Inquisitor biện minh cho hành vi thiêu sống những kẻ dị giáo và sẵn sàng đóng đinh cả chính Chúa Jesus là vì hạnh phúc của đám dân đen -những kẻ ngu dốt, luôn sợ hãi tự do và việc phải lựa chọn. Theo y, nếu đặt đám dân này phải lựa chọn giữa hạnh phúc trong ngu dốt và tự do thì bọn chúng luôn chọn hạnh phúc và hy sinh tự do, chỉ cần có bánh mỳ chứ không cần tri thức. Trong khi những kẻ như y phải gánh chịu trách nhiệm lựa chọn cho dân chúng cùng những đau khổ và hệ luỵ của công việc này.

Lời biện minh ấy có giả dối không? Không hoàn toàn là giả dối vì hình như y thực sự tin tưởng vào điếu đó. Nhưng lý giải theo Orwell thì đó là doublethink. Y tin thế vì y muốn tin thế (một cách vừa có ý thức vừa không có ý thức). Hay theo Kundera thì đó là một cái kitsch, là những mỹ từ được đặt ra để tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Những cái kitsch ấy tồn tại như những nếp gấp trong vỏ não mà người ta thường trượt vào để có thể cảm thấy yên tâm chứ không phải xuất phát từ sự lựa chọn có ý thức. Orwell có câu trả lời khác qua lời một nhân vật của mình "chúng tôi muốn quyền lực chỉ vì quyền lực". Không vì hạnh phúc của dân chúng. Không vì sự thoả mãn của bản thân. Nghe tưởng nghịch lý nhưng chẳng phải Nietzsche từng coi ý chí quyền lực là động cơ của loài người đó sao. Những người cộng sản ghét Nietzsche cũng vì điều đó. Không phải vì tư tưởng của Nietzsche đã phần nào góp phần cho sự ra đời của chủ nghĩa Quốc xã. Mà vì cũng như Dostoievski, Nietzsche đã bóc trần sự hào nhoáng của những mỹ từ mà họ đang "pretend" và chẳng có vị Hoàng đế nào lại thích thú khi một đứa trẻ kêu lên là "Hoàng đế cởi truồng". Nhưng để có thể kêu lên như thế thì lại phải là trẻ con! Mà những đứa trẻ thực sự trong một xã hội giả dối, nơi những cái kitsch trở thành chuẩn mực, thì lại không có nhiều.