Showing posts with label books. Show all posts
Showing posts with label books. Show all posts

Saturday, October 13, 2007

Sách


Đường về lòng người tha phuơng nhớ
Chiều dần dần mờ cô thôn vắng
Người yêu dấu ngàn đời thấu chăng
Ta nén đau thương gắng bước hoài
Thuyền chèo tới đâu chưa ngừng bến

Chiều thứ 7 nghe Chiều vàng của Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bảo hát. Giọng Ngọc Bảo có lúc nghe rất thích, có lúc cảm thấy khó chịu và sốt ruột. Chắc hẳn phải do tâm trạng phù hợp, cũng như nghe jazz không phải lúc nào nghe cũng được. Hôm nay thì nghe thấy thích.

Trên blog của Hiếu đang nói chuyện về sách. Hồi nhỏ tôi cũng rất thích sách. Nhà tôi vốn không có nhiều sách và mọi người trong nhà cũng không phải hay đọc. Trong 3 anh em trai thì tôi là người chịu khó đọc sách nhất. Trẻ con hồi đó nghèo và không có đồ chơi, nếu có thì toàn là những đồ chơi tự tạo không mất tiền mua (đồ chơi duy nhất mất tiền mua có lẽ là súng phun nước vào dịp Trung thu). Thế nên suốt hồi cấp 1 và cấp 2, tất cả tiền mừng tuổi của tôi là đều để vào việc mua sách. Gần như tất cả các cuốn sách truyện trong nhà đều từ những khoản tiền mừng tuổi và tiền ăn sáng (nếu có) đó. Nhưng khoảng cách giữa sách và văn học thực sự còn xa lắm- các sách tôi mua hồi đó là truyện cổ tích, rồi truyện phiêu lưu, truyện tình báo, truyện trinh thám này nọ, chứ hầu như không có các tác phẩm văn học lớn (lý do là chúng thường dầy và đắt, vượt quá khả năng mua sắm của tôi) mặc dù thỉnh thoảng cũng mượn được quyển này quyển kia từ các nhà hàng xóm.

Nhớ hồi cấp 2, bác hàng xóm nhà tôi có khá nhiều sách hay như của Dumas, Victor Hugo…Nhà bác có hai cô con gái trong đó có một cô bằng tuổi tôi nhưng vì học sớm một năm thành ra hơn tôi 2 lớp (vì không phải học lớp 9) thành ra nghiễm nhiên xưng chị với tôi. Với bản chất nhút nhát cộng thêm không chịu nhận người bằng tuổi là chị nên tôi thường tránh không nói chuyện với cô. Nhưng nhà cô lại có nhiều sách hay, thế là tôi thường cứ phải xúi thằng em trai đi mượn sách hộ. Em trai tôi thì lười đọc sách, mặc dù hồi nhỏ hai anh em vẫn thường rủ nhau đi bộ ra Hiệu sách nhân dân Từ Liêm, Hiệu sách nhân dân Giảng Võ để xem sách. Hồi đó sách chỉ được bày bán ở các hiệu sách nhân dân, mỗi phường hay vài phường có một hiệu sách. Đó là một thú vui khi đọc tên các cuốn sách, các tác giả, đôi khi hỏi cô bán sách cho xem lướt nội dung cuốn sách, đọc tóm tắt nội dung hay lướt qua lời giới thiệu cuốn sách (sách ngày xưa bao giờ cũng có lời giới thiệu, khác với bây giờ có cuốn có, có cuốn không). Nhưng hầu hết thời gian chỉ là để ngắm nghía, chọn lựa trước và tưởng tượng tới lúc mình có đủ tiền để quay trở lại mua những cuốn sách đó. Các bộ sách Tam Quốc, Đông chu liệt quốc, Tây du ký, Thủy Hử, Phong thần diễn nghĩa tôi đều mua vào những năm cuối cấp 2 ở hiệu sách Giảng Võ. Và thường để mua hết các bộ sách đó có khi mất cả năm, mỗi lần mua chỉ có đủ tiền mua 1 tập, 2 tập.

Đến khi cuối cấp 2 và đầu cấp 3 và đi xe đạp thường xuyên thì một địa chỉ mà tôi thường đến nữa (bên cạnh Hiệu sách Giảng Võ) là phố Nguyễn Xí- Tràng Tiền. Hiệu sách Quốc văn Tràng Tiền là một địa chỉ lớn lúc đó nhưng thường chỉ lúc nào có nhiều tiền rủng rỉnh thì mới vào đó chọn sách. Bình thường tôi hay lang thang ở Hiệu sách phố Nguyễn Xí- chỗ bây giờ là một Hiệu sách rất to mà tôi không nhớ tên- ở đó có quầy hàng sách giảm giá, và thỉnh thoảng có nhiều sách hay được bán với giá rẻ. Ví dụ tôi mua được hai bộ sách của Dumas là Bá tước Monte Christo và Hoàng hậu Mác-gô ở đây với giá rẻ bất ngờ chỉ bằng chừng 50% giá bìa.

Nhưng hồi học cấp 3 thì tôi cũng không còn đọc truyện mấy- hay đúng hơn là chuyển sang đọc truyện chưởng thuê ở ngoài hàng. Những bộ truyện chưởng đầu tiên đọc còn là sách photo từ hồi miền Nam cũ, đọc nhiều khi rất bực mình vì bị mất đi một số trang. Thực ra tôi bắt đầu đọc truyện chưởng từ hồi cấp 2 nhưng đó là các truyện chưởng nhái đội tên sửa chữa do các nhà xuất bản Tiền Giang, Hậu Giang gì gì đó in ra. Nhưng những cuốn truyện chưởng đó chỉ hấp dẫn ban đầu rồi sau đó chán dần và tôi không còn muốn đọc nữa. Nhưng khi bắt đầu đọc Kim Dung hồi cấp 3 thì lại khác. Truyện Kim Dung đưa tôi vào một thế giới, một không gian tưởng tượng mới kỳ bí và hấp dẫn. Tôi vẫn nhớ cảm giác đọc liền mấy tập Tiếu ngạo giang hồ trong một dịp cuối năm để kịp trả sách trước khi Tết đến cho khỏi “dông”. Những cảm giác dồn nén, hồi hộp, vui sướng và buồn bã cùng nhân vật, để đến khi đọc xong là một cảm giác vừa thỏa mãn, vừa bâng khuâng và hối tiếc khi sẽ không còn gặp lại, không còn tiếp tục hành trình cùng các nhân vật trong truyện nữa.
Đến khi lên Đại học thì tôi ít đọc truyện hẳn, mặc dù hồi đó có tiền học bổng khoảng 50.000 đồng một tháng. Có thể do tác động của môi trường xung quanh, khi quanh tôi gần như chẳng có ai đọc sách. Và cũng còn do những mối quan tâm khác nữa trong cuộc đời, khiến sách trở nên có một vị trí thứ yếu. Tiền học bổng lúc đó được dành để mua băng nhạc, để ngồi quán xá trong trường, và đôi khi là để uống bia. Mãi tới chừng năm thứ 3 Đại học, khi tôi bắt đầu làm thẻ thư viện Hà Nội thì tôi mới bắt đầu đọc sách trở lại, ban đầu là đọc sách kinh tế nhưng về sau chủ yếu là mượn truyện về để đọc. Sau này tới khi đi làm tôi vẫn có thẻ ở thư viện Hà Nội để thỉnh thoảng mượn sách. Nhưng rồi bận bịu việc nọ việc kia nên thường là tôi bị quá hạn trả sách nên cũng không mượn sách ở đó nữa. Lúc này có tiền hơn nên tôi cũng chịu khó mua sách hơn, mặc dù đã bắt đầu rơi vào tình trạng không đọc hết những gì mình mua.

Tới bây giờ thì tình trạng đó lại càng rõ. Sách mua nhiều khi chỉ vì thích mua chứ không phải vì cần, mà cũng biết trước rằng khi mua về mình sẽ không có thời gian để đọc nó.
Trong nhà tôi giờ nhiều sách, mà tới khi về Việt Nam chắc chắn sẽ phải gửi đường biển, nhưng số sách mà thực sự đã đọc chỉ là thiểu số. Sách thư viện cũng vậy, mỗi lần đi thư viện là tha về một đống sách đủ thể loại nhưng nhiều cuốn không kịp đọc trước khi đem trả. Đôi khi lại chặ
c lưỡi bảo bao giờ về hưu sẽ đọc tiếp Joyce, Faulkner, Pynchon vậy. Khổng tử ngày xưa cũng 50 tuổi mới bắt đầu đọc Kinh Dịch mà.

Nhưng nhiều lúc vẫn thấy nhớ cái cảm giác háo hức hồi xưa khi mua được một cuốn sách mới, cảm giác đằm chìm trong cuốn sách như một sự khám phá. Và cả cái cảm giác khi một buổi chiều ảm đạm nào đó, nằm trên giường và lật trang sách mà không phải đắn đo hay nghĩ ngợi về một điều gì khác. Sự đủ đầy nhất của cuộc đời, phải chăng lại chính là ở tuổi thơ, ngay cả ở những tuổi thơ thiếu hụt. Liệu có phải khi người ta trưởng thành thì cuộc sống sẽ luôn mất đi một điều gì đấy không thể nào lấy lại được?.

Tuesday, August 7, 2007

Why not the worst

Đọc bài của bạn Trang, bên cạnh phản ứng có thể hiểu được của bạn khi tác phẩm bị chê (phản ứng mà giờ hay được gọi bằng cái câu “Ai cho mày chê con tao xấu” của Phan Thị Vàng Anh) thì tôi có một số nhận xét sau:

Thứ nhất về cách tôi chê tác phẩm của Dương Thụy và phỏng đoán là có thể có những ẩn ứng về tình dục trong tác phẩm là một điều bình thường. Các nhà phê bình vẫn có những giả thuyết như ảnh hưởng của chứng bất lực, sợ đàn bà của Kafka lên các tác phẩm của ông, hay ám ảnh về tình dục và bạo dâm từ đời tư bản thân trong các tác phẩm của Elfried Jelinex…Đó là nhận xét của một số nhà phê bình chuyên nghiệp đối với các tác phẩm của các nhà văn lớn. Ở đây, tôi cũng chỉ đặt một vấn đề có thể có các mặc cảm bạo/khổ dâm trong các tác phẩm của Dương Thụy với tư cách một nhà văn, và hoàn toàn không nói gì về đời tư của chị Thụy mà cá nhân tôi không hề quen biết. Cũng xin nói thêm ở đây là việc tồn tại các liên tưởng khổ/bạo dâm trong tác phẩm hoàn toàn là điều bình thường và không có gì xấu. Nhà phê bình nghệ thuật Susan Sontag có câu thế này: Khiêu dâm chẳng có gì xấu cả. Xấu xa là tả về nó một cách tồi tệ. Sự vụng về, ngớ ngẩn của Dương Thụy trong việc mô tả cảm xúc và cả ức ẩn tình dục mới là điều đáng quan tâm. Ở Mỹ hàng năm người ta vẫn có giải thưởng trao cho các cảnh mô tả sex tồi tệ, vô duyên nhất trong các tác phẩm văn học và điện ảnh cũng vì thế.

Tuy nhiên, nếu điều này thực sự làm phiền lòng nhà văn Dương Thụy và những người yêu mến chị thì tôi cũng xin lỗi.

Nội dung thứ hai quan trọng hơn. Bạn Trang viết “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì? Mà sao anh không chọn sách giải trí cho nam giới lại chọn sách giải trí cho phụ nữ, lại còn phụ nữ Việt Nam (!), để rồi lại bực mình vì chúng mà tuôn xa xả trên blog như thế? Tôi chịu, không thể trả lời được, chỉ biết bắt chước người xưa tự bảo rằng mình không phải là người ta, sao biết cái bực của người ta”. Ở đây bạn Trang có một giả định ngầm hiểu là sách viết cho phụ nữ thì chỉ có phụ nữ mới nên đọc và nên nhận xét hay phê bình về nó. Nói theo kiểu Huệ Tử thì đàn ông không phải là phụ nữ nên không thể đánh giá chính xác tác phẩm dành cho phụ nữ. Giả định đó không hợp lý vì một tác phẩm được viết ra không có quy định ai là người được đọc hay nên đọc, và mỗi đối tượng đọc sẽ có cách hiểu và đánh giá khác nhau theo cảm tính và kinh nghiệm của bản thân. Lấy ví dụ cuốn Harry Potter vốn là sách dành cho trẻ con nhưng số người lớn đọc nó còn nhiều hơn số trẻ con (theo một bài báo link từ trang Arts & Letters Daily- Và tất nhiên các bài điểm sách trên báo về Harry Potter cũng không có bài nào do các cậu bé 15 tuổi viết cả). Các tiểu thuyết vốn được viết nhằm vào đối tượng bạn đọc là phụ nữ như của Jane Austen ngày nay trở thành các tiểu thuyết kinh điển được giảng dạy trong các trường Đại học và được nhiều chuyên gia có râu và không râu, mặc bra và không mặc bra phê bình, diễn giải. Thế nên ý kiến sách của gái là để gái đọc, giai có lén đọc thì không nên nói gì là hòan toàn không hợp lý. Lập luận của bạn Trang do đó thể hiện một sự thiếu hụt về logic.

Hơn nữa, những nhận xét của tôi là những nhận xét của một người đọc cụ thể, là đàn ông, 30 tuổi, phản ánh đánh giá của riêng tôi và hoàn toàn không quan tâm tới việc người đọc nhận xét đó phải tin vào nó. Một người đọc có thể cảm động và thích thú với “Oxford thương yêu”, có sao đâu, tôi không nghĩ mình có trách nhiệm phải thuyết phục anh ta/cô ta/ cháu bé là cuốn sách đó dở thế nào. Đơn giản, tôi chỉ nêu nhận xét của mình.

Còn những câu như “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì?” thì quả thực rất buồn cười, bản thân tôi vẫn đang tự hỏi câu đó từ 15 năm nay mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời (cũng không mong được ai trả lời giúp)
.

Nội dung thứ ba, có thể quan trọng hơn cả, là cách phản ứng trước một tác phẩm mà người đọc thấy là không hay trong thế giới Internet ngày nay. Theo bạn Trang, cách ứng xử hợp lý nhất khi thấy tác phẩm không hay (theo chủ quan) là không quan tâm tới nó, quẳng nó sang một bên chứ không cố đọc hết nó, rồi nếu có mà đọc thì đọc xong cũng cấm kêu, “xê ra cho người ta làm văn sĩ”. Phản ứng này của bạn Trang theo tôi là rất chủ quan và có tính áp đặt. Mỗi người đều có cách ứng xử riêng của mình khi đọc một tác phẩm hay dở (cũng như khi chọn một cuốn sách hay dở). Nói thực, đối với tôi, đọc một cuốn sách rất dở nhiều khi lại là một thú vui. Thú vui ấy lại càng thích thú trong trường hợp tác giả cuốn sách dở lại cứ nghĩ là mình viết hay. Trường hợp này cũng xảy ra trong điện ảnh. Các phim của đạo diễn Ed Wood được nhiều người xem rất hâm mộ vì nó quá dở nhưng đạo diễn thì luôn tin tưởng là phim của mình rất hay, và xem phim của ông, người ta sẽ được cười sảng khoái vì cái sự dở một cách hồn nhiên của nó.

Vì lý do tại sao người ta đọc sách dở thì có thể xem bài tiểu luận này “Why not the worst” trên tờ NY Times. Có đoạn như sau “Bad books have an important place in our lives, because they keep the brain active. We spend so much time wondering what incredibly dumb thing the author will say a few pages down the road. One caveat: As with bad movies, a book that is merely bad but not exquisitely bad is a waste of time, while a genuinely terrible book is a sheer delight.”.

Đọc sách dở cũng là một sự thích thú. Và việc nhận xét về nó thì vừa là một sự thích thú vừa có một ý nghĩa tích cực. Nếu không lầm thì bạn Trang cũng hay tham gia một diễn đàn (mở) mà trong đó có phương châm “making fun of stupidity”. Và tôi nghĩ rằng ắt hẳn bạn cũng đã từng có nhiều lúc cũng “making fun of stupidity”. So, it happened and happens all t
he time!

Quan trọng hơn, một tác phẩm chính thức ra đời thì công chúng có toàn quyền nhận xét về nó theo ý họ. Bạn lo ngại những nhận xét “sắc cạnh” có thể giết chết tác phẩm, hay cảm hứng của tác giả (còn cái ý bạn nêu ra “mạng sống của không chỉ một con gà” thì tôi hơi sợ nên xin không được đưa vào). Nhưng cái đáng quan tâm hơn là các nhận xét đó có chính xác không hay là có sai sót, và tác phẩm đó có thực sự hay, hấp dẫn hay dở theo chủ kiến của người viết. Những lời phê bình khen ngợi hay vuốt đuôi thì có quá nhiều rồi, và cũng không ít những lời chê ngớ ngẩn, vơ đũa cả nắm đối với các tác phẩm nổi nổi (hai loại này tồn tại trên cả báo chí lẫn trên các blog). Và tất nhiên cũng không thiếu những lời khen nửa vời, chê nhỏ nhẹ “thiện chí”. Nếu một nhà văn sợ các lời chê “sắc cạnh” đến thế thì có nên xuất bản tác phẩm của mình không vì một khi tác phẩm đó đã được xuất bản thì nó không còn là sản phẩm của riêng nhà văn đó nữa rồi. Với lại, những người phê bình (ở đây không chỉ tôi- tôi chỉ là người đọc sách) khi viết phê bình thì đối tượng họ nhằm vào không phải là các nhà văn, mà là những độc giả đã, đang, hay có thể đọc cuốn đó. Và vì thế trách nhiệm của một người phê bình không chỉ là giới thiệu những cuốn sách hay mà còn là trình bày quan điểm của họ với các cuốn sách mà họ coi là dở, nhưng lại đang làm mưa làm gió trên thị trường (hai ví dụ: Phạm Lưu Vũ từng có bài phê bình Totem Sói và phê bình cả việc không có nhà phê bình nào phê bình cuốn sách đó; nhà phê bình có lẽ là nổi tiếng nhất thế giới hiện nay là Harold Bloom từng phê phán hiện tượng Harry Potter một cách rất nặng nề cho dù sở trường của ông này là Shakespeare!).

Điểm cuối cùng là về tính chất của blog. Blog là một trang web cá nhân và người viết blog thể hiện quan điểm cá nhân của mình với đối tượng người đọc có thể là bất kỳ ai, một nhóm nhỏ hay chỉ riêng mình. Và tất nhiên người đó chịu trách nhiệm với những gì mình viết trên blog của mình. Như thế hẳn là đã đủ cho tính trách nhiệm cho việc khen/chê rồi. Nếu bạn đọc trên blog tôi cảm thấy những lời tôi nói là thiếu cơ sở, hàm hồ, vô tình hay thậm chí là “độc ác” thì đó là quan điểm của các bạn. Tôi không thể có ý kiến gì.

Entry này bắt nguồn từ Thư hàng tuần của Trần Thu Trang nhưng cũng không hẳn chỉ để trả lời bài trên blog và website của Trần Thu Trang. Rộng hơn nó thể hiện quan điểm của tôi về cách ứng xử xung quanh việc viết văn, đọc sách và đọc/viết blog.

Cuối cùng cũng mong rằng đây sẽ là trao đổi và bày tỏ ý kiến cá nhân chứ không phải là “khẩu chiến” hay “bút chiến” gì.

PS: Với các bạn comment phê phán tôi trên blog của bạn Trang, tôi cũng mong sẽ nhận được các ý kiến phê phán thực sự chứ không phải mấy câu vuốt đuôi kiểu: Ph.D mà hóa ra chỉ nghĩ được thế thôi…(nghe buồn cười lắm!).

Thursday, February 15, 2007

Đọc Linh Sơn- Cao Hành Kiện

1. Lời cảm tạ của Cao Hành Kiện (với quốc vương Thụy Điển tại lễ trao giải Nobel văn học 2000).


"Quốc vương bệ hạ tôn kính,

Con người đang đứng trước mặt ngài hãy còn nhớ, anh ta hồi tám tuổi, bà mẹ bảo viết nhật ký, anh ta đã viết như thế này, và cứ viết mãi cho đến lúc trưởng thành.

Anh ta cũng còn nhớ, khi vào trường trung học, thầy giáo dạy tập làm văn treo lên bảng một tấm tranh quảng cáo, không nói đề mục, mọi người hãy viết về bức tranh này. Nhưng anh ta không thích bức tranh ấy, bèn viết một bài dài phê bình nó. Thầy giáo không những không nổi giận mà còn cho anh ta điểm cao, lại có lời nhận xét nữa: "Bút lực rất khỏe". Anh ta cứ thế tiếp tục viết, từ đồng thoại sang tiểu thuyết, từ thơ đến kịch, mãi khi cách mạng văn hóa tới, anh ta sợ quá, đốt hết toàn bộ.

Sau đó anh ta đi làm ruộng khá nhiều năm. Nhưng vẫn ngấm ngầm viết, đem bản thảo giấu vào trong hũ, chôn xuống đất.

Những tác phẩm anh ta viết sau đó lại bị cấm in.

Về sau, khi sang phương Tây, anh ta vẫn viết và không quan tâm tới việc xuất bản hay không. Dẫu xuất bản đi nữa, cũng không để ý là có phản ứng hay không. Bỗng nhiên lại được đến đại sảnh lộng lẫy này, để nhận từ trong tay quốc vương bệ hạ phần thưởng cao quý.

Thế rồi, không nén được, anh ta hỏi: Thưa quốc vương bệ hạ, đây là thực ư? Hay là câu chuyện đồng thoại?"

(In trong cuốn Linh Sơn- bản dịch của Hồ Quang Du).

Đọc bài này, không khỏi nghĩ, giá thử người thầy giáo trung học của họ Cao cũng theo thói thường tình, chấm bài theo đáp án mà cho Cao điểm thấp hay phê bình anh ta thì liệu Cao còn cảm hứng để sau này tiếp tục viết, “đem bản thảo giấu vào trong hũ, chôn xuống đất”. Và không biết nước Trung Hoa hơn 1 tỷ dân tới giờ liệu có người nào được tặng thưởng giải Nobel văn học hay chưa.

2. Về Linh Sơn

Nhớ khi mua và bắt đầu đọc Linh Sơn ở Việt Nam, thấy rất thích, bạn bèn nhắn SMS cho một số người: “Ấy/cậu/em đọc Linh Sơn chưa. Tớ/anh đang đọc đấy. Hay lắm”. Thế nhưng, cũng phải sau hai tháng, bạn mới đọc xong được cuốn sách có độ dày hơn 600 trang này, trong buổi tối cuối cùng của năm Tuất.

Có thể nói gì về Linh Sơn và Cao Hành Kiện? Bạn cảm thấy khó nhận xét về cuốn sách đó. Ngoại trừ bạn cảm giác đó là một cuốn sách rất đẹp, hơn nữa, như lời của Hội đồng trao giải Nobel 2000, đó là một cuốn sách tự nó làm thành riêng một thể loại. Gần đây, người ta thường nhắc tới các tiểu thuyết hậu hiện đại, nhưng trong số ít ỏi mà bạn đọc thì có lẽ “Đời nhẹ khôn kham” của Kundera và “Linh Sơn” của Cao Hành Kiện là hai tác phẩm mẫu mực, để lại ấn tượng cho bạn nhiều hơn cả.

Với Linh Sơn, bạn còn tìm thấy được một vẻ đẹp khó tả được của thiên nhiên, của nền văn hóa Trung Hoa giàu có, của lịch sử một nước Trung Hoa bạo liệt. Và không phải chỉ là nền văn hóa Trung Hoa của người Hán mà còn là nền văn hóa của người Miêu, của các dân tộc ít người trên vùng biên giới Tây Nam, vốn bị người Hán khinh rẻ và văn hóa Hán đè áp (giống như trong câu chuyện Cao kể vua Hoàng đế- thủy tổ người Hán- diệt Suy Vưu, còn vua Đại Vũ là kẻ đầu tiên bóp chết kẻ khác để thực hiện ý chí của mình).

Trước kia, bạn ngại đọc tiểu thuyết Trung Hoa hiện đại vì ghét cái tủn mủn, tiểu khí, hay thô tục trong đó- cái khí chất của một thùng phuy nặng mùi bí bách lâu ngày mới được (thỉnh thoảng) mở nắp. Nhưng với Cao Hành Kiện thì lại khác. Văn Cao Hành Kiện rất đẹp, phóng khoáng, lãng mạn dạt dào, lúc trầm mặc như bức tranh thủy mặc, lúc hào hứng, lúc huyền ảo mà có lúc lại rất phong tình, đôi khi có hóm hỉnh nhưng dư vị của hóm hỉnh vẫn là chua xót.

Nhân vật trong Linh Sơn đi tìm Linh Sơn, một ngọn núi thiêng trong huyền thoại. Đó là hành trình tìm về tự ngã của anh ta? Hay hành trình tìm về một cội nguồn văn hóa, về những khoảng thời gian đã bị đánh mất, những vẻ đẹp của quá khứ, những số mệnh đau khổ của con người bị đè nghiến, bị vùi dập, bị lãng quên trước những đổi thay của thời cuộc. Con người trong Linh Sơn thật cô đơn, dù họ có bấu víu, yêu thương hay hành hạ nhau thì họ vẫn cô đơn- nhưng phải chăng chỉ khi họ tự ý thức được sự cô đơn đó thì họ mới tìm được mình? Cũng nói thêm là những trang viết về giới tính, về nỗi cô đơn và ham muốn của đàn ông và đàn bà rất xuất sắc, nhân vật nữ trong tác phẩm của ông sinh động và giàu sức sống không kém nhân vật nam, trong khi lại vẫn có một cái gì đó huyền ảo (các đồng thoại Trung Quốc vẫn để những nhân vật nữ là các hồ ly tinh lấy chồng, sinh con nhưng vẫn bí hiểm một cách rất “hồ ly tinh” đó sao). Người đọc dễ đồng cảm mình với nhân vật nam nhưng lại hết sức cảm thông và thương xót cho nhân vật nữ của ông.

Con người đó có tìm được Linh Sơn không? Cao Hành Kiện trả lời bằng mấy câu kệ, mà ông cho là một ngạn ngữ cổ đã có từ mấy nghìn năm:

“Có cũng về,
Không cũng về,
Đứng ở bên sông gió tái tê”,

Khi ta biết là đã có thể “về” rồi, thì phải chăng lÃ
  ta đã tá»›i được Linh SÆ¡n? Hoặc là gần tá»›i chăng?

So sánh Cao Hành Kiện với các tác giả khác thì gần như không thể. Ông là một nhà văn thấm đẫm chất phương Đông và tính dân gian (bản thân ông cũng là một họa sĩ tranh thủy mặc), nhưng lại là người thử nghiệm một cách viết chịu ảnh hưởng của phương Tây, có lẽ ông là người đầu tiên chăng? Người duy nhất khiến tôi cảm thấy có gì đó gần gũi với Cao là Kawabata với những câu văn phảng phất như những bài thơ thiền, nhưng như kết tinh trong đó vẻ đẹp của nền văn hóa Nhật Bản, “đẹp và buồn”? Có lẽ, không phải ngẫu nhiên, mà Cao và Kawabata là hai người Trung Hoa và Nhật Bản đầu tiên được trao giải Nobel.

Biết đến bao giờ văn học Việt Nam mới đi ra được những tủn mủn của thời gian, của áp lực tên tuổi và một mảnh chiếu trên văn đàn để có được những tác phẩm đẹp và gợi cảm, kết tinh được cả một nền văn hóa đặc sắc như của Cao Hành Kiện hay Kawabata?

Cũng xin nói thêm về bản dịch. Như tôi được biết, có ba bản dịch Linh Sơn ra tiếng Việt, cũng là một hiện tượng hiếm hoi, phản ánh sự đánh giá cao của người Việt với Cao Hành Kiện và phần nào là sự tương đồng văn hóa giữa Linh Sơn với người Việt (thực ra bối cảnh Linh Sơn là vùng Tây Nam Trung Quốc- chính là địa bàn sinh sống của người Việt cổ khi xưa- bộ tộc Âu Việt của Thục Phán cũng xuất xứ từ vùng này mà tiến xuống phương Nam lập ra nước Âu Lạc). Bản tôi đọc là của Hồ Quang Du (không biết là ai, có hay dịch không) dịch từ tiếng Trung, và theo tôi, là bản dịch rất xuất sắc. Ngoài ra còn một bản dịch từ tiếng Pháp cũng tên là Linh Sơn của Trần Đĩnh (nghe nói cũng Việt hóa rất hay nhưng lại là dịch từ một ngôn ngữ trung gian) và bản tên là Núi Thiêng của Ông Văn Tùng.

Viết đã khá dài như vậy nhưng thực ra tôi có hiểu Linh Sơn không? Xin quote lại ba dòng cuối cùng trong cuốn sách thay cho câu trả lời.

“Vờ làm ra hiểu nhưng rốt cục vẫn chẳng hiểu.
Kỳ thực tôi chẳng hiểu gì, chẳng biết rõ điều gì.
Nó như thế đấy”.

Thế đấy!

Thursday, February 8, 2007

Giăng lưới bắt chim và Ngồi



1. Giăng lưới bắt chim- Tập tiểu luận của Nguyễn Huy Thiệp. Ban đầu, tôi không kỳ vọng gì nhiều vè cuốn sách này vì thấy có một số bạn chê nó. Hơn nữa, tôi hay có cảm giác là các nhà văn ở Việt Nam ít khi có thể làm được nhiều hơn một việc, do một cái dớp hay cái mặc cảm nào đó. Bảo Ninh cuối cùng cũng chỉ có Nỗi buồn chiến tranh. Chu Lai, Lê Lựu... đều lặp lại mình trong các trang viết. Nhưng có lẽ chính vì không có kỳ vọng gì nhều vào cuốn sách này, mặc dù nó mới được giải thưởng về lý luận văn học gần đây, nên nó lại là một sự ngạc nhiên khá thú vị. Tôi đã đọc hết cuốn này trên chặng hành trình 26 giờ từ Hà Nội tới Minnesota (cùng với vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và 100 trang cuốn O Zahir). Các nhận định về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp trong "Trò chuyện với hoa thủy tiên" (hình như cũng gây ầm ĩ một thời gian?) và vài bài khác khá thú vị, và đa phần, theo tôi, là chính xác. Mặc dù, có thể nói Nguyễn Huy Thiệp hơi ẩu về mặt tư liệu, (ví dụ trích dẫn nhận định của Khổng tử về tiểu thuyết nhưng mà lạy trời, thời Xuân Thu- Chiến quốc đâu có tiểu thuyết theo nghĩa như từ tiểu thuyết hiện nay, thêm nữa các trích dẫn của ông trong sách đều rất đại khái, rất khó kiểm tra là ông thực sự trích dẫn hay là bịa ra, đó là chưa kể một số sai sót về mặt tư liệu) và cảm tính trong các bài viết của mình. Các bài viết của ông, có lẽ nên xem là các mạn đàm trà dư tửu hậu về văn chương và về bạn văn, chứ không phải là các tiểu luận-phê bình văn học theo đúng nghĩa của nó. Nhưng các mạn đàm của ông nói chung đều thú vị và sâu sắc.

Đọc tập sách này cũng hiểu thêm chút ít về Nguyễn Huy Thiệp, ông có vẻ chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa dân gian, đôi chút của Nho học và Thiền học, và rất hâm mộ Nietzsche. Các chân dung văn học được ông đề cập tới đều là các nhà thơ dân gian như Đồng Đức Bốn (được ông coi là người làm hồi sinh thơ lục bát Việt Nam, kế tục sự nghiệp của Tản Đà, Nguyễn Bính và Bùi Giáng) và Nguyễn Bảo Sinh. Có hai câu thơ của Đồng Đức Bốn mà ông hay trích dẫn trong cuốn sách này :
"Xong rồi chả biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương"
Hai câu thơ phảng phất sự cô quạnh và bế tắc trong sáng tác, trong đời sống văn học ở Thủ đô, và có lẽ còn là sự cô quạnh và bế tắc của cả chính Nguyễn Huy Thiệp nữa.

2. Ngồi của Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết Việt Nam mới đọc gần nhất. Hôm trước vừa nói Thuận là tiếng nói lạ của văn học Việt Nam (dù không lạ lắm trên thế giới) nhưng đọc Ngồi thì mới thấy Nguyễn Bình Phương mới thực sự là tiếng nói lạ. Có thể nói Nguyễn Bình Phương là một trong số ít nhà văn Việt Nam để tâm và khá thành công trong việc cách tân hình thức của tiểu thuyết (trước đó có thể kể Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh và Nguyễn Xuân Khánh với Hồ Quý Ly). Tiểu thuyết của Phương pha trộn giữa hiện thực với tưởng tượng, không chú trọng nội dung của chuyện mà là cảm giác do nó mang lại tới người đọc. Đọc Ngồi còn thấy Nguyễn Bình Phương hình như muốn đưa ảnh hưởng của hội họa siêu thực, và âm nhạc với các tiết tấu, giai điệu khác nhau của câu chữ vào trong tiểu thuyết, nhằm tạo nên một ấn tượng về sự lùng bùng, bí ẩn, vừa pha trộn vào vừa tách bạch ra giữa thực và tưởng tượng/quá khứ/huyền ảo. Có gì đó hơi giống với bức tranh "Sự dai dẳng của trí nhớ" của Dali, trong đó có những chiếc đồng hồ bị kéo dài ra, dẹt lại, treo lủng lẳng trên cây, trong sự tĩnh tại của không gian xung quanh. Thời gian trong "Ngồi" đối với nhân vật Khẩn cũng là một thứ lùng nhùng như vậy. Người đọc khó phân biệt được trong các đoạn về chuyện của anh ta với một cô gái tên là Kim, đâu là tưởng tượng, đâu là giấc mơ khi ngủ, đâu là giấc mơ khi thức, đâu là quá khứ, đâu là huyễn hoặc...

Đọc xong Ngồi, nếu bảo review về nội dung của nó thì sẽ thấy rất khó, vì đây không phải là một tiểu thuyết theo nghĩa truyền thống, nó hơi giống với môt mảng cắt trong cuộc đời tẻ nhạt của một số viên chức bị lost in time, pha trộn thêm vào là những yếu tố huyền ảo. Những người đọc trẻ ở độ tuổi 8x có thể khó đồng cảm với nó, như Nguyễn Bình Phương tự nói, anh ta viết không cho những người trẻ tuổi, cách anh ta 10 tuổi hay hơn vì anh cũng không hiểu gì về họ cả. Trước Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài đã đề cập tới sự bế tắc, ngột ngạt và vô dụng của cuộc sống viên chức Việt Nam trong Marie Sến. Có điều Hoài viết về thời mới mở cửa còn Phương viết về những năm 2000, tức là chừng 15 năm sau. Thực ra cũng có thể tách Ngồi ra thành hai tiểu thuyết/truyện ngắn: một về đời sống viên chức/Đảng viên trong các cơ quan Nhà nước và hai về các ảo ảnh/tưởng tượng/hồi tưởng của nhân vật chính trong truyện.Và cả hai phần này, theo tôi, đều là những trang viết hay (và đẹp nữa, nhiều đoạn phiêu diêu có thể so với những đoạn văn đẹp nhất trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh)- nó vừa gợi lên một cuộc sống thô tục, tầm thường và đầy dục vọng trong đời sống thực (vô số các từ chửi bậy, các đoạn mô tả sex khá trần trùi), vừa gợi lên một thế giới huyền ảo, bí ẩn tồn tại song song. Nếu như Khẩn ừ ào ba phải, sống bừa bãi trong thế giới thực bao nhiêu thì trong thế giới huyền ảo của anh, anh lại là người thông minh và dịu dàng. Nếu ở ngòai đời, anh sống không hôn thú với Minh, quan hệ tình dục với đồng nghiệp Nhung, với cả người đàn bà bán khoai nướng, chưa kể vô số lần đi chơi gái, thì trong giấc mơ/hồi ức của mình với Kim, anh nhớ ra mình chưa bao giờ làm tình với Kim. Và cả hai phần đó trộn lẫn với nhau hình thành nên cuộc sống của Khẩn- một viên chức/ Đảng viên/quyền trưởng ban... có lẽ ở tuổi cuối 30 và đầu 40. Trong thế giới thực anh không biết mình cần gì, tìm gì. Trong thế giới ảo, anh biết mình có Kim.

Ấn tượng chung sau khi đọc cuốn này là Nguyễn Bình Phương là một tác giả đáng đọc, mặc dù có thể không phải cho mọi người, nhất là n
hững người chờ đợi ở tiểu thuyết một câu chuyện có tính truyền thống, hay những kết luận đã có từ trước.

Có vẻ như Nguyễn Bình Phương và Thuận hiện đang là hai cái tên đáng kể nhất trong văn học Việt Nam vài năm qua, là những người đủ công lực và tự tin để tạo ra một hướng đi mới và riêng cho mình, khai thông dòng chảy văn học Việt Nam vốn tù đọng trong chừng 15 năm gần đây. Họ cũng là những người viết cần mẫn, với 4-5 tiểu thuyết trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

Saturday, February 3, 2007

T mất tích và Paris 11/8

Hai cuốn này của Thuận cũng là những cuốn tôi tranh thủ đọc khi ở Việt Nam. Đã nghe tới tên tuổi Thuận từ khá lâu nhưng giờ mới đọc.

Đọc xong thì lại không biết nói thế nào về hai cuốn này. Thực sự, tôi thích T mất tích hơn, chính sau khi đọc xong cuốn này tôi mới tìm các cuốn khác của Thuận, nhưng chỉ tìm được Paris 11/8 mà không thấy Chinatown.

T mất tích là một tình huống kiểu Kafka: Một ngày kia một anh chàng người Pháp ngủ dậy và phát hiện ra vợ mình- một cô T nào đó người Việt Nam đột nhiên mất tích (so sánh: anh chàng K của Kafka tự nhiên bị kết án là có tội). Và bắt đầu từ quá trình tìm kiếm T và lo đối xử với những phức tạp nảy sinh trong cuộc sống liên quan tới việc T mất tích mà anh chàng kể chuyện không tên kia liên tục có những suy tưởng nối tiếp, sâu chuỗi với nhau theo kiểu nhân vật K trong Vụ án của Kafka. Nhiều suy nghĩ và liên tưởng khá thú vị thể hiện khả năng quan sát tinh tế của tác giả, cách dùng văn của người viết cũng dễ chịu, tạo điều kiện cho độc giả theo dõi được quá trình đó. Nói chung là cách viết khá mới lạ (ở Việt Nam).

Nhưng rút cục lại thì tôi vẫn chưa hiểu rõ lắm ý đồ của tác giả: Phải chăng Thuận muốn nêu lên những tình huống con người, tưởng gần nhau mà thật xa nhau trong thế giới hiện đại, khi mà một ngày kia bạn chợt phát hiện là những người mà bạn tưởng như hiểu rõ, thân quen như đồ vật xung quanh bạn thật ra lại không phải là như vậy? Một tình huống alienation giữa người với nhau, như các vật thể rời rạc được nối với nhau bởi một số các sợi dây nào đó nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết được chính xác các sợi dây đó là gì, và thực sự là sợi dây nào trong số đó mới đóng vai trò liên kết giữa bạn với những người kia?. Và rút cục lại, có thể đó lại là câu hỏi tự vấn: thật ra, chúng ta là ai, và vai trò của chúng ta như thế nào trong cái mớ bùng nhùng mà người ta không biết và không hiểu gì nên đành lấy đại một danh từ ra để gọi chúng- xã hội con người?

Paris 11/8 lại là một câu hỏi tự vấn tương tự nhưng về cuộc sống của những người Việt tha hương ở trên đất Pháp. Rút cục họ là ai, họ thuộc về đâu, cái gì đã làm họ đến một nơi xa xôi thế, và cái gì đã giữ họ ở lại đó? Tác giả đem tương phản cuộc đời của hai nhân vật nữ, một xinh đẹp, một xấu xí, cùng vật lộn với đời sống trong một xã hội xa lạ- hay đúng hơn là không phải vật lộn mà là cùng để bị cuốn trôi bởi cuộc sống. Hình như không có chỗ nào trong đó tác giả cho các nhân vật tự vấn mình, tự hỏi mình những câu hỏi như họ là ai, họ thuộc về đâu, tại sao họ lại làm thế? Phải chăng, ý của Thuận là muốn qua đó để phản ánh sự nhạt nhẽo của kiếp người, và con người rút cuộc chỉ là những con rối cứ bị cuốn đi theo đà quay của số phận và hoàn toàn thờ ơ ngay cả với chính bản thân mình?.

Tuy nhiên, đó chỉ là các liên tưởng mơ hồ của tôi chứ không dám chắc là dụng ý của tác giả. Dù sao thì cũng có thể coi Thuận là một tiếng nói khá mới mẻ và tương đối thú vị trong văn học Việt Nam hiện nay cùng với các cuốn sách của cô. Liệu có thể ví Thuận như một Kundera của Việt Nam, cũng với nỗi suy ngẫm về kiếp người và khả năng quan sát, liên tưởng, phân tích tâm lý tinh tế, nhưng thiếu đi tính triết lý cùng sự tự tin và khéo léo của Kundera trong việc xây dựng các tình huống con người?

Paris 11/8- tên sách nhớ lại ngày 11/8/2003- tức là 4 ngày sau khi tôi rời khỏi Paris trong trận nóng kinh khủng khiến hơn 4000 người Pháp chết. Giờ đây, tôi có còn nhớ gì về Paris hè 2003, ngoài những ấn tượng tuy không quên nhưng cũng mờ dần và mất dần các cảm giác về nó ?


Hạt cơ bản và Ba người khác

Thử điểm qua đôi chút về hai cuốn sách gây ồn ào dư luận Việt Nam trong thời gian qua mà tớ đã kịp tranh thủ đọc trong thời gian ở Việt Nam: Hạt cơ bản của Houellebecq và Ba người khác của Tô Hoài. Hình như là hai cuốn duy nhất được dành riêng hai cuộc hội thảo, một do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức và một do L'Espace tổ chức.

Về Hạt cơ bản của Houellebecq do Cao Việt Dũng dịch, được biết cuốn sách này rất có tên tuổi ở Pháp (trong khi lại bị chìm nghỉm trong số các tác phẩm văn học dịch ở Mỹ- tất nhiên người Mỹ và ngời Pháp từ xưa vẫn có sở thích và tư duy nghệ thuật hơi khác nhau). Cao Việt Dũng cũng được coi là một dịch giả trẻ nhiều triển vọng nhất- nhớ đọc trong một bài báo nào đó phỏng vấn Dương Tường thì chỉ có Cao Việt Dũng là dịch giả trẻ duy nhất được Dương Tường đánh giá cao và kỳ vọng trong số những cái tên khác được nhà báo nhắc tới như Ngọc Cầm Dương, Lê Quang, Lương Việt Dũng...

Quay trở lại nội dung cuốn sách, tôi hiểu cuốn sách như một lời phê phán đối với xã hội phương Tây thời hiện đại và Houellebecq đang lập lại tiếng kêu của Spengler thủa nào "Phương Tây đang suy đồi". Nguyên nhân sự suy đồi ấy được Houellebecq lý giải như là kết quả của cuộc cách mạng tình dục của thế hệ 68, đã khiến cho loài người lại trở về với trạng thái cạnh tranh tình dục giống như ông cha ta thủa hoang sơ. Nhưng nếu như thủa hoang sơ thì sự cạnh tranh tình dục chỉ nhằm mục đích tiến hóa thì trong thời hiện đại, sự cạnh tranh tình dục đóng vai trò là nòng cốt cho sự định hướng và phát triển của xã hội- nói cách khác xã hội phương Tây được quy định và tạo khuôn từ những cá thể có nhu cầu và khả năng tình dục mạnh mẽ và rút cục tất cả các vấn đề của xã hội đều được quy về khái niệm tình dục. Trong xã hội không có chỗ cho những con người "siêu nhiên" như Nietszche từng mơ ước (hình mẫu là Micheal, một người không có nhu cầu tình dục), cũng không có chỗ cho những kẻ khốn cùng, thừa ham muốn nhưng lại thiếu khả năng và sự hấp dẫn tình dục như Bruno. Những kẻ như thế có thể có chỗ đứng và thậm chí được xã hội tôn vinh trong các thời đại của Lý trí, thời đại của Đức tin như trong quá khứ nhưng lại không thể có chỗ đứng trong thế giới tiêu thụ hiện đại. Và sự suy đồi của phương Tây sẽ xảy ra khi cuộc cạnh tranh tình dục được đẩy tới vô cùng, phá vỡ tất cả những nền móng lý trí, đạo đức, tôn giáo.. được tạo ra trong hơn 2000 năm qua.

Vậy một xã hội tương lai là gì? Houellebecq không đi xa hơn Huxley trong Brave New World
(thực tế Houellebecq nhắc tới Huxley khá nhiều trong cuốn này, coi ông ta như cha đẻ tinh thần cho các hội đoàn tự do tình dục). Từ những năm 30 thế kỷ trước, Huxley đã tưởng tượng tới một xã hội vô cảm, gần như phi tình dục (đúng hơn là có tình dục nhưng tình dục đã trở nên nhạt nhẽo và tầm thường như việc đánh răng vào buổi sáng), nơi con người được sản xuất hàng loạt trong phòng thí nghiệm, với các tính năng và trí tuệ được xác định từ trước (nói thêm -về mặt ý tưởng, Huxley là một người rất xuất sắc mặc dù văn ông này thì đọc rất chán, nhạt chưa từng có, có thể nói là một nhà văn tồi). Xã hội tương lai của Houellebecq cũng gần như y hệt, nên ý tưởng này có thể được coi là mới lạ với người đọc Việt Nam vốn chưa được tiếp cận với Huxley chứ thực ra cũng chẳng có gì mới mẻ cả.

Đi xa hơn, có thể hình dung Houellebecq như một nhà văn bảo thủ mới, một nhà bảo thủ khá kỳ quặc, người lên án xã hội tiêu thụ, sexually-oriented cùng tất cả các trào lưu tưởng như ngoài lề nhưng lại phản ánh định hướng xã hội và tiên đoán cho sự suy đồi của nó (từ những-người-sáu-tám hippie của những năm 68 cho tới phong trào new age gần đây). Quay trở về với tình yêu và đạo đức xã hội có thể là những điều mà tác giả ngầm gửi gắm mặc dù bản thân ông ta cũng hoang mang về khả năng đó. Tình yêu chỉ là một sự an ủi cho những kẻ bị gạt ra ngòai lề xã hội (giống như tôn giáo trước kia?) chứ không cứu được số phận của họ.

Cảm giác chung của tôi về cuốn sách này là có một số điều thú vị nhưng nhìn chung tôi không thực sự thích nó, nhất là cái tính lên gân cường điệu hơi có vẻ trí thức Gô-loa. Cái chất hài hước đen cũng hơi sỗ sàng quá với người đọc. Nhưng có lẽ ở một đất nước hiếm hoi nơi các nhà văn được coi như một thứ celebrity thì văn phong hơi có phần trưởng giả, ngạo nghễ, bề trên của Houellebecq được độc giả chào đón nhiệt liệt là có thể hiểu được. Hơn nữa, người Pháp thực sự tin là nước họ (và châu Âu) đang suy đồi, trong khi người Mỹ với sự tự tin vốn có, không nghĩ vậy.

Về chất lượng bản dịch, tôi không biết tiếng Pháp để đọc nguyên bản nên không có gì để nói nhiều. Nhưng nếu Cao Việt Dũng dùng tiếng Việt nhuyễn hơn một chút thì có lẽ sẽ xứng đáng hơn với các kỳ vọng của Dương Tường dành cho Dũng chăng? Vì rằng đúng như Dương Tường nói, Cao Việt Dũng là một dịch giả trẻ hiếm hoi có phông văn hóa rất đáng nể và với lòng yêu nghề đáng khâm phục (cứ căn cứ vào số lượng các tác phẩm mà Dũng dịch trong thơi gian qua cũng có thể thấy được điều đó.

2. Ba người khác

Nếu như Hạt cơ bản là về sự suy đồi của xã hội phương Tây, thì Ba người khác lại đề cập tới một sự suy đồi khác, một sự tha hóa khác, đó là sự tha hóa của một xã hội châu Á trong dòng thác cách mạng. Dòng thác ấy cuốn băng đi các giá trị cổ truyền, biến tất cả trở về với số không. Và có gì đó rất gần với Hạt cơ bản, đó là khi hệ thống các giá trị đạo đức xã hội từng được thiết lập hàng nghìn năm bị cuốn phăng đi thì chỉ còn lại con người với những bản năng muôn thủa trần trụi của họ. Và còn lại là tình dục, tình dục, tình dục. Hay nói như Tô Hoài là “sinh hoạt như gà”. Trong cái nền mờ mờ, nhập nhoạng của thời buổi chẳng ai biết cái gì, tin cái gì ấy thì cũng diễn ra các cuộc cạnh tranh tình dục giữa các con đực và con cái: giữa Đơm và Duyên, giữa Bối, Đình và Cự.

Và dòng thác ấy ở Việt Nam chính là cải cách ruộng đất. Ngòai cuốn Mảnh đất lắm người nhiều ma và Những thi
ên đường mù có đề cập đôi nét tới cải cách ruộng đất (nhưng nghiêng nhiều hơn tới các hậu quả của nó về sau) thì đây là cuốn sách đầu tiên tôi đọc lấy bối cảnh hoàn toàn là cuộc cải cách ruộng đất. Đọc cuốn này mới biết tới các khái niệm rễ, chuỗi, tới mối quan hệ giữa đội cải cách và rễ, chuỗi. Với giọng văn tưng tửng như của người ngoài cuộc (trong khi thực ra Tô Hoài lại là người trong cuộc hiếm hoi- và nhân vật Bối có khá nhiều điểm chung với tác giả), Tô Hòai đã vạch trần được sự giả dối, vô phương hướng, và hơn cả là sự tha hóa của con người trong thời cải cách đó.

Văn Tô Hoài giản dị, hơi tưng tửng nhưng có chiều sâu và sự thâm thúy ẩn trong đó, không điệu đà như Nguyễn Tuân hay giàu cảm xúc cá nhân như Nguyên Hồng. Về tư cách của ông trong Cải cách ruộng đất hay Nhân văn giai phẩm thì cũng có người nói thế này, người nói thế kia nhưng với Ba người khác, cùng với hai cuốn hồi ký Chiều chiều và Cát bụi chân ai thì có thể nói, hiếm có nhà văn Việt Nam nào dũng cảm và “thành ý” (thành thật với chính mình) như Tô Hoài. Ông từng nhận mình ngủ với Xuân Diệu trong Cát bụi chân ai, và có chung chạ với “rễ, chuỗi” khi làm đội cải cách, “sáng tác” các lời cung của tù nhân khi làm chánh án tòa cải cách (xem phần phát biểu của Tô Hoài trong tọa đàm về Ba người khác trên talawas). Trong sách Đại học có câu Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm là bốn bước để tu thân. Xem ra thì ở Tô Hoài, tuy trong đời không phải lúc nào ông cũng giữ được đạo làm người quân tử, hay là người kẻ sĩ nhưng đến cuối đời, lại là một người hiếm hoi làm được điều đó.

Nói chung, đây là một cuốn sách đáng đọc, không chỉ về giá trị văn học mà còn về giá trị lịch sự của nó khi nhìn lại về một thời kỳ “tha hóa” của đất nước.