Showing posts with label history. Show all posts
Showing posts with label history. Show all posts

Monday, December 3, 2007

Thành Troy- sự thực hay/và huyền thoại



Map of Homeric Greece.

(Troy và Hy Lạp thời Homer)

Truyền thuyết thành Troy có lẽ là truyền thuyết nổi tiếng nhất trong lịch sử thể giới, trở thành bất tử nhờ trường ca Illiad vĩ đại của Homer (việc Homer là một người hay một tập thể tác giả truyền tụng từ đời này sang đời khác thì đến nay chẳng có ai biết được). Trước năm 1870, hầu hết các học giả đều cho rằng thành Troy chỉ là một huyền sử, không tồn tại và chưa từng có cuộc chiến thành Troy nào tương tự như trong Illiad cả. Cho tới khi vào khoảng năm 1870, nhà khảo cổ nghiệp dư người Đức Heinrich Schiliemann đã khai quật được dấu vết của thành này, ở Tiểu Á, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Các công trình khảo cổ của Schiliemann và những người kế cận tới nay cho thấy có chín lớp thành Troy trong lịch sử, kể từ khoảng 3000 năm trước công nguyên cho khoảng 100 năm TCN (chú ý là thời La Mã, hoàng đế La Mã Augustus cũng xây dựng lại một thành phố mới trên đất này, cũng lấy tên là Illium- một tên khác của Troy- thành phố này còn tồn tại cho tới tận thời Byzantine).

Map of the Troad (Troas).
Troy

Thành Troy của Homer được cho là lớp thành Troy thứ 7, vào khoảng 1200 TCN, phù hợp về mặt niên đại lịch sử với những gì Homer miêu tả. Ban đầu các công trình khảo cổ cho rằng thành Troy này nằm ở trên đỉnh đồi và về quy mô không thể lớn như được miêu tả trong sử thi của Homer. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy, phần đã được khai quật chỉ là một phần nhỏ của di chỉ Troy VII, và thành Troy trong lịch sử có thể có quy mô gấp 10 so với quy mô theo quan điểm trước đây, và có thể có cả vạn người sinh sống (tức là rất lớn so với quy mô các thành phố vào thế kỷ 13 TCN).

Người Hittite là dân tộc từng lập nên đế quốc Hittite hùng mạnh, từng làm bá chủ Tiểu Á, xâm chiếm Lưỡng Hà, tranh hùng với Ai Cập trong suốt từ thế kỷ 19 TCN tới 12 TCN (chú ý tính thời điểm khá gần với thời điểm của thành Troy). Giải mã một bức thư của vua Hittite gửi cho vua của người Ahhiyawa mà ngày nay người ta cho rằng chính là người Archaens (người Hy Lạp cổ trong chiến tranh Troy), người ta cho rằng thành Troy chính là thành phố có tên là Wilusa ([W]Ilios=Illium=Troy?) trong lịch sử. Trong bức thư có nhắc tới sự kiện xung đột của thành Wilusa với người Archaens. Vua thành Wilusa có tên là Alaksandus, và có thể đó chính là Alexandre của Troy- tức là hoàng tử Paris trong Illiad. Nếu xét về niên đại thì thời điểm của bức thư này cũng trùng hợp với thời điểm của thành Troy trong lịch sử.

Thành Wilusa trong lịch sử là một thành phố độc lập nhưng có quan hệ liên minh với đế quốc Hittite. Trong lịch sử tồn tại của đế quốc Hittite có xảy ra một trận chiến lịch sử giữa đế quốc Hittite và đế quốc Ai Cập là trận Kadesh. Trận đánh này được coi là trận đánh chiến xa lớn nhất ở Ai Cập- Lưỡng Hà cổ đại, xảy ra vào năm 1274 TCN. Hai bên tham chiến trận này với chừng 5000 chiến xa và tổng cộng chừng 50.000 bộ binh. Kết quả trận chiến này gần như là hòa (với thắng lợi chiến thuật không đáng kể của Ai Cập) nhưng dẫn tới sự suy yếu đồng thời của cả hai đế quốc Ai Cập và Hittite.

Trở lại chuyện thành Troy, sau trận chiến Kadesh do Hittite suy yếu nên liên minh Assuwa gồm các thành phố ở Tiểu Á và Lưỡng Hà (trong đó có Troy-Wilusa) là đồng minh và chư hầu của Hittite bèn trở mặt chống lại Hittite. Xảy ra chiến tranh giữa liên minh Assuwa và đế quốc Hittite. Cuộc viễn chinh của người Archaens đánh thành Troy có lẽ cũng xảy ra vào thời gian này. Chú ý là trong Illiad, đoàn quân Hy Lạp không chỉ đánh thành Troy mà còn đánh rất nhiều thành phố khác liên minh với Troy. Bản thân Troy cũng nhận được sự giúp đỡ của các thành phố liên minh, ví dụ như của Menon ở Ethiopia. Tương quan về mặt lịch sử thì có thể đây là chiến tranh giữa liên minh các thành phố của người Archaeans (với tư cách đồng minh của đế quốc Hittite?) và liên minh Assuwa- cựu chư hầu của Hittite- mà Troy là đại diện. Như vậy đó có thể là một phần trong cuộc chiến giữa Hittite và đồng minh với liên minh Assuwa. Phần thắng cuối cùng của cuộc chiến này thuộc về Hittite, nhưng đó cũng chỉ là chiến thắng tạm thời vì Hittite cũng nhanh chóng tan rã sau đó.

Như vậy, dù đây còn là một bức tranh chưa định hình rõ lắm nhưng cũng có thể có những hình dung nhất định về người Troy và bối cảnh lịch sử của họ ở Tiểu Á trong thời kỳ như miêu tả trong Illiad.

The Hittite Empire of Asia Minor in ca. 1300 BC (light red).

Đế quốc Hittie (màu đỏ). Màu xanh thuộc về đế quốc Ai Cập. Wilusa có thể là Troy


Còn về phía những người Hy Lạp trong Illiad, họ là ai? Người Archaeans là liên minh các thành phố- bộ lạc sinh sống ở Achaea, phía bắc bán đảo Peloponnese. Họ thuộc nền văn minh Mycenean, nền văn minh thứ hai ở Hy Lạp sau văn minh Minoan xuất xứ từ đảo Crete. Tôi
nghĩ sự suy sụp của văn minh Minoan và sự kế tiếp của văn minh Mycenean được hình tượng hóa trong thần thoại Hy Lạp chính bằng truyền thuyết về Theseus chính phục quái vật Minotaur ở đảo Crete, biểu hiện cho sự chiến thắng của văn minh Mycenean (ở đây là thành Athens- Theseus được coi là người sáng lập thành này) với văn minh Minoan. Các thành bang nổi tiếng nhất của văn minh Archaens là Athens, Thebes và Mycenea (tên nền văn minh này được gọi theo tên của Mycenea). Thành Mycenea là thành phố hùng mạnh nhất thời này, chứ không phải là Thebes (của Oedipus) hay Athens (của Theseus) hay Sparta (của Menelaus) dù đây cũng là các thành phố rất quan trọng. Thế nên cũng không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu thành Mycenea là Agamememnon cũng đồng thời là thủ lĩnh người Hy Lạp trong chiến tranh Troy.

Có một điều nghịch lý là sau chiến tranh Troy thì nền văn minh Mycenean cũng bị thoái trào và biến mất. Hầu hết các nhà lịch sử học cho rằng đó là hậu quả của việc người Dorian du mục từ phương Bắc tràn xuống các thành phố Hy Lạp, và xóa bỏ văn minh Mycenean- nền văn minh dựa trên thương nghiệp và hàng hải. Cũng từ đó bắt đầu thời kỳ Dark Age vì người Dorian man rợ hơn các cư dân thành phố Hy Lạp cổ. Thành Sparta trở thành trung tâm quyền lực của người Dorian, và con cháu của thần dân vua Menelaus và nàng Helens kiều diễm trở thành các helot, sống kiếp nửa nô lệ. Cũng trong thời kỳ lịch sử Dark Age này, nhà thơ Homer lang thang đi các thành phố Hy Lạp, kể lại câu chuyện về một thời kỳ huy hoàng trong quá khứ, khi văn minh Mycenean còn rực rỡ, và các chiến binh Archaens như Achiles, Ajax, Uylyssey... đã vượt biển tới Tiểu Á để chinh phục các thành bang nơi này.

Các chiến binh Hy Lạp sau chiến tranh Troy, họ đi đâu? Trong huyền thoại Troy, chỉ có rất ít người trở về. Một số còn lang thang xuống tận Ai Cập (ví dụ trong hậu Troy có nhắc tới chuyện Menelaus đi tới Ai Cập).

Theo nhiều nhà sử học, một trong các giả thuyết về người Sea Peoples được nhắc tới trong các văn tịch cổ Ai Cập là người Sea Peoples từng cướp phá Ai Cập- chính là người Archaens. Rất có thể người Sea Peoples chính là những người Archaens bị người Dorian đánh đuổi khỏi Hy Lạp, nên trở thành dân tộc du mục-cướp biển sống lang thang ở bờ biển Tiểu Á và Ai Cập. Cũng có thể người Ionian- người gốc Hy Lạp di cư sang Tiểu Á và lập ra các thành bang ở đây chính là con cháu người Archaens sau khi họ bị người Dorian đánh bại.

Theo giả thuyết vẫn được lưu truyền thì thi sĩ Homer cũng là một người Ionian sinh trưởng ở Tiểu Á. Và Illiad của ông có lẽ là một sử thi để tưởng nhớ về dân tộc Hy Lạp cổ oai hùng trong cuộc viễn chinh lớn nhất của họ, trước khi bị người Doryan đánh bại ở chính quốc.

Về quy mô chiến tranh Troy, có thể trận chiến Troy sẽ chỉ liên quan tới vài nghìn người mỗi bên là nhiều rồi, có thể có nhiều nhất là vài trăm cỗ xe của mỗi bên? Tất nhiên là cả người Hy Lạp và người Troy lúc đó không thể nào có đủ nhân lực và tài sản nhiều như đế quốc Hittie và đế quốc Ai Cập để có thể có được những trận chiến vĩ đại như trận Kadesh với 5000 cỗ xe và 50.000 bộ binh.


Nên nhớ là tới tận thế kỷ 8-9 TCN ở Trung Quốc, chiến trận mà mỗi bên có vài trăm chiến xa cũng là các trận đánh rất lớn rồi. Một nước ở thời Đông Chu được coi là rất lớn khi có được hơn nghìn chiến xa.




The image “http://www.vroma.org/images/mcmanus_images/aeneas_troy2.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.




Các hình khác đều từ Wikipedia

Friday, August 10, 2007

Lịch sử phán xét?

Bài này chỉnh sửa từ một comment trả lời trên blog bác 5xu. Dạo này mình hay đạo ý tưởng và lấy cảm hứng từ entry ở các blog khác để viết blog mình (thật ra là vì comment dài quá nên tiếc công type mới bê về blog mình :D)

.

1. Dương Vân Nga

Sử chỉ ghi thái hậu họ Dương còn chữ Dương Vân Nga sau này người ta cho thêm vào chứ không có trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thời đó, việc các vua lấy vợ là vợ của các vua trước là bình thường, chỉ là củng cố liên minh chính trị giữa các dòng tộc lớn. Ảnh hưởng của Nho giáo không đáng kể thời này. Khác với các vua thời sau này hay khác với Trung Quốc (nhưng lại giống với Chiêm Thành trong việc có thể có nhiều hoàng hậu), các vua thời Đinh- Tiền Lê đều lập tới 5 hoàng hậu, và lấy các hoàng hậu thuộc các dòng tộc có thế lực.

2. Đinh Toàn

Về số phận của Đinh Toàn thực ra sử ghi lại cũng rất mập mờ, Tớ nhớ là chính sử không ghi gì tới số phận của Đinh Toàn sau khi bị cướp ngôi. Nhưng dù có làm gì thì Đinh Toàn lúc đó cũng như con gà trong chuồng, Lê Hoàn muốn bảo gì, làm gì chẳng được, thậm chí ngay cả cái chết trên chiến trường (nếu quả thực như vậy theo một số tài liệu phái sinh sau này) cũng là đáng nghi- trong lịch sử rất nhiều trường hợp những kẻ truất phế bị giết khi tới tuổi trưởng thành. Mà tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài cũng từng chết trên chiến trường!

3. Có phải Lê Hoàn giết Đinh Bộ Lĩnh

Nếu quả thực Lê Hoàn giết Đinh Bộ Lĩnh, tại sao Nguyễn Bặc, Đinh Điền không hỏi tội Lê Hoàn ngay sau sự biến cung đình? Có thể giải thích như sau. Thứ nhất họ chưa có cơ sở ngay để kết tội Lê Hoàn giết vua (có thể do Đỗ Thích không khai?). Thứ hai, quân ở kinh đô đều do Lê Hoàn nắm, Nguyễn Bặc- Đinh Điền tuy là trọng thần nhưng không trực tiếp nắm quân đội (Lê Hoàn là tổng chỉ huy quân đội và quân cấm vệ- sau này Lý Công Uẩn lấy được ngôi vua cũng nhờ là chỉ huy quân cấm vệ, Triệu Khuông Dẫn ở Tàu cũng thế). Và đây cũng là lý do hai trọng thần bậc nhất này lại nhanh chóng bị thua Lê Hoàn. Việc Lê Hoàn là tướng của Đinh Liễn mà lại có thể giết hai cha con Tiên Hoàng thì chẳng có gì là lạ, trong lịch sử thiếu gì trường hợp như thế, nhất là ở Trung Quốc. Lê Hoàn lại là một kẻ hùng tài, thao lược, không ngán cả Tống- Chiêm thì có ngại gì mấy vị chủ cũ giờ suốt ngày hoan hỉ yến tiệc rượu chè.

4. Tại sao Đinh Liễn giết em mà Tiên Hoàng không trừng trị.


Cuối cùng việc Đinh Liễn giết em trai mà vẫn làm đại quan thì cũng dễ hiểu. Đinh Liễn không phải là kẻ tầm thường, thế lực rất mạnh trong triều lại giết đi kẻ có thể tranh chấp với mình thì còn ai dám làm gì (trừ khi ám sát như đã làm). Như khi Lý Thế Dân giết Kiến Thành, Nguyên Cát xong thì Lý Uyên cũng chỉ tần ngần khóc chứ đâu dám làm gì Thế Dân nữa. Đinh Liễn giết Hạng Lang cũng là học tập Thế Dân thôi (hình như Lý Thế Dân cũng sùng đạo Phật còn tài giỏi với công lao thì khỏi phải nói rồi). Ngoài ra còn một ý nữa là trên phương diện ngoại giao mà nói thì Đinh Liễn chứ không phải Tiên Hoàng mới đang là người cai trị ở Việt Nam- Đinh Liễn được nhà Tống phong là Giao Chỉ quận vương, là người cai trị An Nam trong con mắt của nhà Tống. Chính vì cái chết của cha con họ Đinh nên nhà Tống mới có cớ để đánh Việt Nam.

5. Về niên hiệu Đại Hành.


ĐVSKTT ghi:

Mùa xuân, tháng 3, vua băng ở điện Truường Xuân, gọi là Đại Hành Hoàng Đế, sau nhân đó dùng làm miếu hiệu mà không đổi, chôn ở sơn lăng châu Trường Yên

Lê Văn Hưu nói: Thiên tử và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là [25a] Đại Hành Hoàng Đế333 . Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên thì hợp bầy tôi bàn xem đức hạnh hay hay dỡ để đặt thụy là mỗ hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không gọi là Đại Hành nữa. Lê Đại Hành thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu mà truyền đến ngày nay là làm sao? Vì Ngọa Triều là con bất tiếu334 , lại không có bề tôi Nho học để giúp đỡ bàn về phép đặt thụy cho nên thế.

(Đại Hành: khi vua mới mất chưa đặt thụy hiệu thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế. Có sách giải thích "đại hành" là đi xa hẳn không trở lại. Có sách giải thích "đại hành" là đức hạnh lớn (hành và hạnh viết cùng một chữ, âm cổ đọc như nhau).

Một số sử gia sau này vin vào nghĩa thứ hai và cho rằng Đại Hành là vua được dân chúng yêu quý nên mới đặt tên thụy là “Đức lớn” như thế. Trong khi thực ra là Đại Hành không có tên thụy do sau khi chết, các con ông nội chiến, đánh giết nhau hàng mấy tháng trời, chẳng thèm bận tâm tới việc chính thức đặt tên thụy cho ông.

6. Quan điểm hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về Lê Đại Hành

Nhận định của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sỹ Liên về Lê Đại Hành đập nhau chan chát. Lê Văn Hưu có lẽ ở vào thời Nho giáo chưa thịnh lắm, đứng trên tinh thần dân tộc nên ca ngợi Lê Đại Hành do ông này dẹp yên nội loạn và nguy cơ nội chiến, phá Tống thành công. Ngược lại Ngô Sĩ Liên chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nhiều hơn, nên đứng trên lập trường Nho giáo phê phán việc Đại Hành cướp ngôi, cũng như phạm vào cương thường đạo Nho (lấy 5 vợ, lấy vợ của chủ cũ…). Ngô Sĩ Liên cũng tỏ ra thương tâm cho số phận của Nguyễn Bặc, Đinh Điền, những người bị thua trận và không thể thanh minh trước lịch sử thuộc về phe thắng trận. Ông còn trách móc sử gia cũ như Lê Văn Hưu chỉ ghi lại lời Lê Hoàn mắng Nguyễn Bặc mà không ghi lại lời Nguyễn Bặc (có thể) mắng Lê Hoàn. “Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.”.

Lê Văn Hưu nói: Lê Đại Hành Giết Đinh Điền, bằt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện [14b], Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được.Có người hỏi: Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư ? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họLý.

Sử Thần Ngô Sĩ Liên nói: Tam cương là đạo thường của muôn đời, không thể một ngày [15a] rối loạn. Khi Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương tuy còn nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành tự xưng là Phó Vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được rắp tâm, rắp tâm thì ắt phải giết. Đó là phép của sách Xuân Thu, người người điều được nêu lên mà thi hành. Nguyễn Bặc, Đinh Điền sao có thể nhẫn tâm điềm nhiên mà nhìn ? Rồi lui về dấy quân hỏi tội, mưu giữ xã tắc, thế là bầy tôi trung nghĩa đấy. Việc không xong mà chết, thế là bề tôi tử tiết đấy. Lời bàn của Văn Hưu lái đánh đồng với hàng loạn tặc, khiến cho đạo nhân luân không được sáng tỏ với đời sau, gây mầm mống tiếm đoạt, để cho những kẻ có quyền lực tranh nhau bắt chước, quét sạch cương thường, vì thế không thể không biện bác.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ tuổi còn không tránh khỏi những lời gièm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huống là Nguyễn Bặc ở chức thủ tướng và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.

Sử Thần Ngô Sĩ Liên nói: Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chổ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, [16a] con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đàu mối họa đó sau ?

7. Nhận định của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về Ngô Quyền và Đinh Tiên Hoàng:

Đọc các nhận định của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên có thể thấy quan điểm hai người tương đối khác nhau. Lê Văn Hưu có tinh thần dân tộc rất mạnh, hẳn là vì sinh ra vào thời nhà Trần đang trong giai đoạn chống Nguyên với hào khí Đông A. Ngô Sĩ Liên thì đánh giá thiên về quan điểm đạo đức Nho giáo, về khả năng tạo ra sự ổn định của triều đại, và cả theo quan điểm lịch sự thăng trầm theo “vận trời đất, bĩ rồi ắt thái”, ít đánh giá công trạng cá nhân hơn so với Lê Văn Hưu.

Nhận định về Ngô Quyền và Đinh Tiên Hoàng: Lê Văn Hưu ca ngợi quân công lấy lại đất nước của Ngô Quyền “làm cho người phương Bắc không dám sang lại nữa” nhưng lại ngầm chê “Ngô Quyền” chưa hoàn toàn độc lập và ngang hàng với phương Bắc vì mới chỉ xưng vương chứ chưa xưng đế. Do đó, Lê Văn Hưu có phần đánh giá cao Đinh Tiên Hoàng hơn Ngô Quyền do ông này đã xưng đế, ngang hàng với Trung Quốc, nối được cơ nghiệp của Triệu Vương.

Ngô Sĩ Liên thì lại bàn trên khía cạnh trị nước của Ngô Quyền, ông cho rằng Ngô Quyền đã có công lập ra một triều đại độc lập. Trong khi ông coi nhẹ vai trò của Đinh Tiên Hoàng, cho rằng đó là do yếu tố thời cuộc, hết loạn rồi trị thôi, không có một Đinh Bộ Lĩnh này thì sẽ có một Đinh Bộ Lĩnh khác.

Các sử gia sau này thiên về quan điểm của Ngô Sĩ Liên, cho rằng thời độc lập của Việt Nam được bắt đầu từ khi Ngô Quyền đuổi được quân Nam Hán (938) chứ không phải khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước và xưng Đế.

Lê Văn Hưu nói: Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đến, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Tiền Ngô [Vương] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương. Nhưng hưởng [21b] nước không được lâu, chưa thấy hiệu quả trị bình, đáng tiếc thay !

Lê Văn Hưu nói: Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu [3a] quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý trời vì nước Việt ta mà lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống của Triệu Vương chăng

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vận trời đất, bĩ rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại bên Bắc triều [Trung Quốc] suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên. Ở Nam triều [nước ta], 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên. Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy?


8. Những kẻ thua cuộc không có tiếng nói trong lịch sử?

Giả sử Lê Hoàn thua quân Tống, Việt Nam mất nước thì sau này chắc hậu thế sẽ tha hồ rủa Lê Hoàn như một Hậu Lý Nam đế từng cướp ngôi, ám sát Triệu Quang Phục rồi để mất nước. May mắn (và tất nhiên là nhờ tài năng của Lê Hoàn) mà Lê Hoàn đã thắng trận và thế là lại có câu chuyện Dương Vân Nga mặc hoàng bào để tiễn chàng ra trận cứu nguy cho sơn hà trong các vở kịch, truyện lịch sử sau này. Còn cái chết của cha con họ Đinh, cũng vì thế mãi mãi sẽ là một nghi án không thể làm rõ.

Ngô Sĩ Liên từng trách sao sử gia đời trước sao chỉ biết ghi Lê Hoàn mắng Nguyễn Bặc mà không biết lời Nguyễn Bặc đối đáp ra sao. Lịch sử quả không có chỗ cho kẻ thua cuộc. Những vụ án đầy bí hiểm như cái chết của cha con họ Đinh, thực hư chuyện Lê Văn Thịnh hóa hổ, cái chết của Lê Thái Tông và vụ án vườn Lệ Chi… sẽ mãi mãi là những bí ẩn không bao giờ có lời giải. Người ta vẫn hay nói “Lịch sử sẽ phán xét” nhưng phán xét như thế nào thì lại không phải là chuyện dễ biết. Vì sách sử do con người viết, sẽ có những điều không biết hay không thể viết. Sẽ có những người bị hàm oan trong lịch sử, sẽ có những kẻ thủ ác được tôn vinh…cho dù các nhà viết sử có công bình khẳng khái như Đông Hồ viết bốn chữ Triệu Thuẫn giết vua”. Còn những nhà viết sử uốn bút theo lời kẻ mạnh thì không nói làm gì.

Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư.

Thursday, August 2, 2007

Sử Mông Cổ

Bài này tổng quan tương đối đầy đủ về lịch sử Mông Cổ (dạo này tớ cũng hơi quan tâm tới lịch sử các nước “tứ di” của Trung Quốc như Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản).

VÍ dụ các chi tiết sau:

“Từ thế kỷ thứ I sau Công Nguyên đến thế kỷ thứ IV, người Mãn Châu Tiên Ty (Sien Pi) kiểm soát miền đông xứ Mạc Bắc. Miền tây là đất của A Đề Lai (Attalia). Ông chúa Hung Nô này, có lẽ là người Đột Quyết, mang quân sang tận Đông Âu, chiếm đóng đồng bằng Pannonie, nay gọi là Hung Gia Lợi (Hongrie). Năm 441, A Đề Lai xâm lăng đế quốc Đông La Mã (empire byzantin), tàn phá bán đảo Ba Nhĩ Cán (péninsule des Balkans), năm 451 vượt sông Rhin đánh vào Pháp nhưng bị thua liên quân La Mã, Burgondes, Francs, Visigoths trên những cánh đồng Catalauniques (ở miền Champagne bây giờ). Năm sau, ông định đánh thành La Mã (Rome), nhưng đã bị giáo hoàng Leon le Grand thuyết phục bằng việc nộp cống phẩm. Ông chúa Hung Nô bằng lòng nhận cống phẩm và rút quân, quay về Pannonie và năm 453 chết thình lình.”

Ngườn Hun di cư từ Mông Cổ sang châu Âu là một quá trình hàng trăm năm mới tới Atila chứ không phải Atila vừa làm vua Hung Nô ở Mông Cổ lại vừa sang tận châu Âu chinh phạt như thế. Lúc Atila làm vua người Hun (chưa được chứng minh rõ ràng có phải cũng chính là người Hung Nô hay không) thì người Hun đã cư trú ở Hungary một thời gian lâu rồi. Nhưng ông này nói đúng ý là Hung Nô thuộc về giống Thổ chứ không phải giống Mông Cổ, mà đúng ra thì phải gọi là tiền- Thổ (proto-Turkish) và tiền- Mông Cổ (proto-Mongol).


“Năm 960, nhà Tống thống nhất Trung Nguyên. Nhưng chẳng được bao lâu, những rợ chung quanh mạnh lên, áp chế cả thiên tử. Thuở ấy, các nước rợ mạnh đáng kể là: Đại Hạ, Liêu (có nghĩa là Sắt), Kim (có nghĩa là Vàng) và Tây Liêu.

….
Phía tây khu vực của người Mông Cổ là nước Tây Liêu, địa bàn là khu Tân Cương của Trung Hoa và nước Kazakhstan bây giờ, kinh đô là Hổ Tư Oát Nhĩ Đoá (Husiwoerduo). Cư dân ở đây là người Duy Ngô Nhĩ, một ngành của giống Đột Quyết, theo đạo Hồi.”


Chi tiết này cũng không chính xác. Nước Tây Liêu được thành lập sau khi nước Liêu của người Khiết Đan bị nước Kim của người Nữ Chân diệt, quý tộc Khiết Đan mang 10 vạn quân dân tiến sang Trung Á, lập ra nước Tây Liêu đóng đô ở Kyrgyzstan. Cư dân nước này gồm nhiều chủng tộc, đông nhất có thể là người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) cùng các dân tộc nói tiếng Thổ khác (như người Naiman) nhưng lãnh đạo thì lại là người Khiết Đan (thuộc nhóm Tiên Ty- Mãn Châu). Nhưng tới giai đoạn người Mông Cổ thôn tính Tây Liêu thì người Naiman (một bộ lạc Mông Cổ nói tiếng Thổ không chịu đầu hàng Thành Cát Tư Hãn mà chạy sang Trung Á nương nhờ Tây Liêu) đã lật đổ ách thống trị của quý tộc Khiết Đan để làm chủ Tây Liêu rồi.


Còn vài chi tiết nho nhỏ khác. Nhưng nói chung bài này cũng có ích, cho một cái nhìn tổng quan và khá chính xác về lịch sử Mông Cổ trước và sau Hốt Tất Liệt, dù cách dùng từ hơi cũ, hơi kiểu giản sử theo phong cách Nguyễn Hiến Lê.

Sunday, May 27, 2007

Top các vị tướng mọi thời đại, mọi dân tộc !

Bust of Julius Caesar.

Caesar

Image:Napoleon4.jpg

Napoleon Crossing the Alps by Jacques-Louis David



Nhân đọc ở blog bác Hiếu về chuyện Top 100 với Top 10 vị tướng trong lịch sử thế giới, tớ có vài ý nghĩ thế này:

1. Tớ không tin là có những tổ chức hay viện nghiên cứu lịch sử nghiêm túc và có uy tín nào lại làm cái công việc bình bầu Top 10 hay Top 100 vị tướng hàng đầu thế giới. Cái này khác với việc người ta có thể bình bầu 100 bộ phim xuất sắc nhất thế kỷ 20 hay 100 tiểu thuyết vĩ đại nhất trên cơ sở phỏng vấn các nhà điện ảnh hay các nhà văn. Việc đánh giá tướng nào giỏi hơn tướng nào bản thân nó đã là một việc bất khả, chưa kể sự thiên kiến trong quan niệm và các nguồn tài liệu mà người ta có thể có được. Thế nên bảo Napoleon giỏi hơn Alexander hay là Caesar giỏi hơn Gia Cát Lượng hay là ngược lại thì quả là việc hơi hoang đường.Vì thế có thể chắc chắn rằng chuyện Việt Nam có tên 2 vị tướng trong danh sách 10 vị tướng giỏi nhất mọi thời đại theo bầu chọn của Hội đồng Hoàng gia Anh tất nhiên cũng là chuyện hoang đường, chẳng cần mất công bàn cãi.

2. Có thể có nhiều list do các cá nhân lập ra, nhưng tớ cũng không tin là có những sử gia nghiêm túc nào lại công khai những list như thế. Đó chỉ là các list của những người nghiền lịch sử quân sự và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư liệu cũng như truyền thống giáo dục mà họ có. Tức là nếu list đó do một người phương Tây lập thì sẽ bị ảnh hưởng bởi truyền thống Judeo-Christian-Greek-Roman-Europe của họ, trong đó sẽ thấy khong chỉ vô số vị tướng thời Trung cổ, La Mã, Hy Lạp mà có thể còn một số vị trong Kinh Thánh nữa! Nếu list của một người Tàu lập thì tất nhiên dễ thấy các tên như Tôn Tử, Gia Cát Lượng hay Tào Tháo. Và một người Việt Nam hẳn sẽ khó lòng biết được các chiến công của Grant hay Robert Lee trong khi lại biết rõ về Trần Hưng Đạo. Ở đây không chỉ do tính dân tộc mà còn do những tư liệu mà người ta được đọc. Những list này xem cho vui và để biết thêm về một số vị tướng thôi chứ mất công tin làm gì, nhất là lại những list do một số chú ất ơ nào đó trên các forum lập ra.


3. Có thể tham khảo hai list này trên Wikipedia, có tính trung lập cao, đề cập tới tất cả các vùng địa lý chứ không bị Eurocentric. Nó cũng không có tính thương mại hóa ông số 1 đè ông số 2 như trong các list Top 10, Top 100. Trong đó Trần Hưng Đạo được đưa vào cả hai list Famous military Commanders và Undefeated Military Commanders. Võ Nguyên Giáp thì có trong list Famous Military Commanders (ông bị De Latte đánh thua ở Vĩnh Yên, Mạo Khê, thua về quân sự trong Mậu Thân):

Undefeated Military Commanders

Famous Military Commanders

Friday, April 13, 2007

Thái Bình Thiên Quốc

Thêm về Thái Bình Thiên Quốc (dù biết cái này chắc ở đây, chả ai quan tâm!).

Thêm về TBTQ: Thái Bình Thiên Quốc là cuộc nổi dậy mà lãnh tụ chủ yếu là người Hakka và người Choang. Người Hakka là người gốc Hán nhưng nói thứ tiếng khác, di cư xuống miền Nam muộn, bị người Hán ở đây phân biệt đối xử, thậm chí không cho là người Hán tộc. Hakka có nghĩa là Khách- có lẽ đây cũng chính là nguyên nhân người Việt gọi người Tàu là người Khách?. Từng xảy ra xung đột dữ dội ở Quảng Đông giữa người Hakka và người Hoa ở đây (nói tiếng Cantonese) trong nhiều năm trời khiến cả triệu người chết hay phải bỏ làng mạc. Người Choang thì là một giống người Việt cổ trong Bách Việt khi xưa, ở Việt Nam thì gọi là người Tày- Nùng, họ đã từng có một vương quốc sơ khai thời Nùng Trí Cao nhưng sau đó nhanh chóng bị áp chế bởi cả Việt và Hán, chỉ còn lại là các bộ lạc với các tù trưởng địa phương. Người Choang hiện nay là sắc tộc thiểu số đông thứ nhì thế giới (18 triệu) không có quốc gia riêng (sau người Kurd ở Trung Đông).


Các lãnh tụ Thái Bình Thiên Quốc hầu hết đều là người Hakka và Zhuang, trong quân đội cũng rất đông binh sĩ từ hai sắc tộc này. Lãnh đạo chủ yếu là người Hakka (ngoài Thạch Đặc Khai là nửa Choang nửa Hakka). Trong lực lượng của TBTQ ban đầu cũng có hai phe thường xung đột quyền lợi: phe Quảng Đông (nhiều người Hakka) của Hồng Tú Toàn và phe Quảng Tây (nơi nhiều người Zhuang) của Dương Tú Thanh. Chính vì thành phân tham dự đội quân này ban đầu chủ yếu là người thiểu số, ít bị ràng buộc bởi văn hóa Hán nên họ có thể thực hiện các biện pháp cách mạng trái ngược hẳn với truyền thống Hán tộc: đập bỏ bàn thờ Tổ tiên, phá bỏ Nho giáo, chế độ cộng sản, bình đẳng phụ nữ. Ngay cả khi số quân khởi nghĩa đông nhất thì số người Choang và Hakka cũng lên tới 1/4 tổng số quân đội.


Điều khá thú vị trong cuộc khởi nghĩa này là đội quân TBTQ đã chiến thắng trong hầu hết các cuộc giao chiến với quân chủ lực của chính quyền là các đội quân Bát kỳ của người Mãn và quân Cờ Xanh (Green Standard) của người Hán. Họ chỉ gặp thất bại duy nhất một lần đáng kể khi đội quân Bắc tiến bị tiêu diệt ở Thiên Tân bởi quân chính quy Mãn- Hán do Tăng Cách Lâm Tấn chỉ huy, nhưng khi đó quân Thái Bình chỉ có hai vạn và ở trong vị thế hòan toàn nằm trong lòng địch. Đối thủ thực sự đánh bại họ lại là quân địa phương người Hán do các vị địa chủ- học giả chỉ huy và mộ lính. Đáng kể nhất là Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương, có lẽ là hai tướng tài nhất của nhà Thanh trong thế kỷ 19 (gọi là tài nhưng sau này Lý Hồng Chương đem thủy quân hiện đại hóa của mình đánh nhau với Nhật bị thảm bại, lực lượng thiện chiến nhất, hiện đại nhất của nhà Thanh bị tiêu diệt hoàn toàn). Các đội quân địa phương như Tương quân của Tăng Quốc Phiên có thành phần hầu hết là nông dân địa phương, được lãnh đạo bởi tầng lớp có học- hầu hết các tướng lĩnh thân cận của Tăng đều đỗ đạt, bản thân Tăng có bằng Tiến sĩ và là danh nho nổi tiếng. Tương quân lấy phương châm bảo vệ xóm làng, nêu cao truyền thống Khổng học, tướng sĩ một lòng phụ tử, nên trở thành đạo quân thiện chiến, có kỷ luật nhất. Ngược lại, quân Thái Bình thì lấy phương châm giải phóng dân tộc, xây dựng thế giới Đại đồng, bình đẳng tuyệt đối (có hàng trăm ngàn nữ binh trong quân đội Thái Bình).

Cuộc chiến cực kỳ tàn khốc, gọi là chiến tranh thì đúng hơn khởi nghĩa vì nó kéo dài tới 15 năm và làm chết hơn 20 triệu người và là cuộc nội chiến tàn khốc nhất trên thế giới từ xưa tới giờ- so với nội chiến Mỹ cùng thời kỳ chết 600.000 người. Cốt lõi của nó là xung đột có nhiều lớp như về sắc tộc: Hán- Mãn (nhưng cũng phức tạp vì người Hán tham gia đông và đóng vai trò quan trọng ở cả hai bên và thành phần lãnh đạo TBTQ thì lại là người Hakka-Choang), vùng miền: Nam - Bắc (thế kỷ 19-20 là thời kỳ miền Nam tiến lên miền Bắc, khác với thời xưa chỉ có Bắc tiến tới Nam- sau này Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch cũng từ Lưỡng Quảng mà thống nhất TQ); tôn giáo: Thiên chúa giáo bản địa- Khổng giáo; giai cấp: nông dân, vô sản hay tiểu tư sản- địa chủ và trí thức phong kiến. Nếu xét về mặt tư tưởng, có lẽ đó là sự đối chọi giữa tư tưởng cách mạng cực đoan có màu sắc của chủ nghĩa xã hội Thiên chúa giáo không tưởng với tư tưởng bảo thủ, truyền thống của Khổng giáo. Tuy cuối cùng tư tuởng bảo thủ và truyền thống thắng lợi nhưng những mầm mống cực đoan cách mạng của người Trung Quốc thể hiện trong phong trào TBTQ vẫn còn đấy để rồi tới thế kỷ 20 lại bùng phát dưới ngọn cờ của Mao Trạch Đông. Nhưng Mao thì giỏi hơn Hồng Tú Tòan nhiều, có thể xem Mao là sự kết hợp của cả hai nhân vật lãnh đạo TBTQ: Hồng Tú Toàn và Dương Tú Thanh- ông ta vừa có cái lươn lẹo chính trị, thủ đoạn và charisma của họ Hồng mà lại có tài năng quân sự, tầm nhìn chiến lược, hành động quả quyết của họ Dương. Thêm vào đó, ông ta còn là người Hán lại cũng có học, nên có lẽ còn có được cả cái thâm nho và lão luyện giống như Tăng Quốc Phiên. Thế nên họ Mao mới nhất thống thiên hạ và sau này gây ra khá nhiều trò bi hài kịch ở đất nước tỷ dân này.

PS 1: Dư đảng của TBTQ sau khi bị tiêu diệt tràn xuống Việt Nam thành các đội quân Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng, chưa kể vô số đoàn thổ phỉ khác, khiến tình hình chính trị và quân sự miền Bắc thời đó rất phức tạp- nhà Nguyễn có lần phải mời quân Thanh sang cùng dẹp thổ phỉ. Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh quân Cờ đen, là tướng cũ của TBTQ, về sau được nhà Nguyễn thu phục, và có thành tích giết Garnier. Sau này ông ta chạy sang Đài Loan, có làm Tổng thống Đài Loan một thời gian ngắn trước khi xứ này bị Nhật thôn tính. Nhân vật huyền thoại Hoàng Phi Hồng từng làm chức thầy dạy võ cho quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.


PS 2: Vai trò của các nước phương Tây trong việc dẹp TBTQ là rất đáng kể, ở đây phải nói tới tài năng ngoại giao của Lý Hồng Chương- nhân vật t
ài giỏi nhưng cũng lá mặt lá trái tàn nhẫn bậc nhất, khác với phong cách học giả, chỉnh đốn và quân tử của Tăng Quốc Phiên. Đáng kể nhất trong những người phương Tây là tay phiêu lưu đánh thuê tướng Gordon người Anh- một tay rất giỏi và có đảm lược. Y từng suýt giết Lý Hồng Chương do Lý bội tín giết Lý Tú Thành dù Gordon đã hứa sẽ tha mạng cho Lý Tú Thành nếu chịu hạ thành Nam Kinh đầu hàng (và Lý Hồng Chương đã đồng ý). Gordon sau này sang Sudan làm tổng trấn, đánh thuê cho vua Ai Cập nhưng bị quân Hồi giáo Sudan hạ thành giết chết. Ngòai ra còn có Ward người Mỹ bị tử trận trong thời gian đánh TBTQ.


PS 3: Người Hakka nổi tiếng vì có nhiều nhà lãnh đạo chính trị trong thế kỷ 20. Đặng Tiểu Bình, Lý Đăng Huy, Lý Quang Diệu, ba chị em họ Tống, Thaksin (Thái Lan), Ne Win (Miến Điện)… Ngoài ra còn nhiều diễn viên ca sĩ cũng là người Hakka như Trương Quốc Vinh, Châu Nhuận Phát, Lê Minh…