Khi các "ông đồ" được đối xử như những người bán hàng rong. Tội của họ là không ngồi "đúng lề đường": không chịu ngồi bàn ghế mà cứ thích ngồi bệt trên vỉa hè, và không chịu trả một nửa thu nhập từ việc bán chữ ngày Tết cho Ban tổ chức tại Văn Miếu.
Dùi cui & Cây bút lông - Cảnh sát & Văn hóa ứng xử
Trung tá Lê Quý Luận, đội trưởng đội trật tự Công an Phường Quốc Tử Giám - Quận Ba Đình đang “chỉ đạo các lực lực lượng chức năng” xử lý theo nghị định 227 về lấn chiếm lòng lề đường của UBND TP Hà Nội..
Friday, January 23, 2009
Thursday, January 22, 2009
Entry for January 22, 2009
Trịnh Lữ dịch nhan đề "The Great Gatsby" thành "Đại gia Gatsby". Nghe hơi buồn cười. Chữ "Great" trong "Great Gatsby" có ý nghĩa rất mơ hồ, như phảng phất ký ức về một thời những con người "vĩ đại" đã chết, lại vừa hơi có ý châm biếm. Chỉ tên sách cũng có thể gợi ra những vấn đề khó trả lời: Rút cục, Gatsby có vĩ đại không? Nếu quả thực Gatsby vĩ đại thì cái gì đã khiến anh vĩ đại.
Great có thể coi là "Đại" nhưng "Đại" không có nghĩa "Đại gia". Chữ "Đại gia" không rõ nguyên gốc thế nào, nhưng giờ trong tiếng Việt hàng ngày chỉ được hiểu đơn giản chỉ là tỷ phú lắm tiền (thậm chì còn hơi có hàm ý coi thường về mặt văn hóa) trong những cụm từ như "đại gia và chân dài". Hiểu The Great Gatsby thành "Đại gia Gatsby" e là đã chệch khỏi dụng ý của Scott Fitzgerald. Trên Nhã Nam có đoạn này đọc cũng buồn cười "Ấn bản The great Gatsby lần này của Nhã Nam, do dịch giả Trịnh Lữ chuyển ngữ và cũng là người lựa chọn nhan đề. Dịch giả tin rằng, nhan đề này là phù hợp nhất với cuốn sách và cũng giúp người đọc Việt Nam hình dung chính xác hơn về nhân vật chính Gatsby - như người Mỹ từng hình dung về chính F. Scott Fitzgerald và Gatsby."
Chưa nói tới việc dịch như thế là chính xác hay không thì trong quan niệm dịch của Trịnh Lữ, tôi đã thấy có vấn đề. Cái quan trọng không phải là để người VIệt Nam hiểu về Gatsby như người Mỹ hình dung về Gatsby (còn hình dung về Scott Fitzgerald thì liên quan g. Người Mỹ có hình dung về Fitzgerald như đại gia hay tiểu gia thì cũng chẳng quan trọng gì tới việc dịch tên tác phẩm?). Cái quan trọng khi dịch nhan đề là làm sao chuyển tải chính xác nhất cái mà Scott Fitzgerald muốn nói. Người dịch cần đóng vai trò trung gian, làm sao để truyền tải rõ ràng, chính xác nhất những gì tác giả muốn nói, chứ không phải là "hướng dẫn" người đọc hiểu nó như ý dịch giả muốn.
free counter
Great có thể coi là "Đại" nhưng "Đại" không có nghĩa "Đại gia". Chữ "Đại gia" không rõ nguyên gốc thế nào, nhưng giờ trong tiếng Việt hàng ngày chỉ được hiểu đơn giản chỉ là tỷ phú lắm tiền (thậm chì còn hơi có hàm ý coi thường về mặt văn hóa) trong những cụm từ như "đại gia và chân dài". Hiểu The Great Gatsby thành "Đại gia Gatsby" e là đã chệch khỏi dụng ý của Scott Fitzgerald. Trên Nhã Nam có đoạn này đọc cũng buồn cười "Ấn bản The great Gatsby lần này của Nhã Nam, do dịch giả Trịnh Lữ chuyển ngữ và cũng là người lựa chọn nhan đề. Dịch giả tin rằng, nhan đề này là phù hợp nhất với cuốn sách và cũng giúp người đọc Việt Nam hình dung chính xác hơn về nhân vật chính Gatsby - như người Mỹ từng hình dung về chính F. Scott Fitzgerald và Gatsby."
Chưa nói tới việc dịch như thế là chính xác hay không thì trong quan niệm dịch của Trịnh Lữ, tôi đã thấy có vấn đề. Cái quan trọng không phải là để người VIệt Nam hiểu về Gatsby như người Mỹ hình dung về Gatsby (còn hình dung về Scott Fitzgerald thì liên quan g. Người Mỹ có hình dung về Fitzgerald như đại gia hay tiểu gia thì cũng chẳng quan trọng gì tới việc dịch tên tác phẩm?). Cái quan trọng khi dịch nhan đề là làm sao chuyển tải chính xác nhất cái mà Scott Fitzgerald muốn nói. Người dịch cần đóng vai trò trung gian, làm sao để truyền tải rõ ràng, chính xác nhất những gì tác giả muốn nói, chứ không phải là "hướng dẫn" người đọc hiểu nó như ý dịch giả muốn.
free counter
Sunday, January 18, 2009
Entry for January 18, 2009
Nước Mỹ sẽ tan rã?
Đó là nhận định không phải của một nhà chiêm tinh học mà của một vị giáo sư Nga có tên tuổi, cựu nhân viên KGB và là viện trưởng viện đào tạo các nhà ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga, tiên đoán về sự sụp đổ và tan rã của nước Mỹ . Theo dự đoán của vị giáo sư này, nước Mỹ sẽ chia thành ba: cộng hòa California gồm các bang miền Tây, nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc; New York và Washington DC cùng các bang miền Đông sẽ gia nhập Liên minh châu Âu; còn miền Bắc nước này sẽ thuộc về Canada. Texas và các bang miền Nam sẽ gia nhập Mexico! Hawaii thuộc về Nhật còn Alaska trở lại với Nga. Một kịch bản còn xa hơn những tưởng tượng của nhà văn Philip Dick trong tác phẩm giả tưởng lịch sử The Man in the High Castle, trong đó Philip Dick giả tưởng nước Mỹ thua trận trong thế chiến thứ Hai và miền Tây sẽ dưới sự bảo hộ của Nhật còn miền Đông dưới sự cai trị của Đức. Nhưng Philip Dick là nhà văn viết tiểu thuyết giả tưởng chứ không phải "chuyên gia" về quan hệ quốc tế.
Đáng nói hơn là những ý tưởng điên rồ như của vị giáo sư này lại được nước Nga tiếp nhận khá nghiêm túc, được báo đài của chính quyền đưa tin, phỏng vấn rộng rãi, thậm chí còn được đưa ra thảo luận bàn tròn tại Bộ Ngoại Giao Nga. Ông ta được những trường ngoại giao hàng đầu trong cả nước mời đến phát biểu, trình bày quan điểm của mình. Đó có phải là dấu hiệu của thái độ căm ghét phương Tây, căm ghét Mỹ mù quáng trong công chúng và chính quyền Nga hiện nay? Tôi nghĩ trong lịch sử của mình, nước Nga luôn là một hung thần, một hiểm nguy đối với các dân tộc ngoài Nga. Thời nước này hùng mạnh, nó là hung thần với các công dân của các dân tộc thiểu số trong lòng nó (xem số phận người Ukraine, người Chechen...) và các nước lân bang. Thời nước này suy yếu, nó là hung thần với những người nước ngoài và những người Nga thuộc sắc dân thiểu số sống trong lòng nó. Chủ nghĩa sô-vanh và tệ phân biệt chủng tộc ở nước này quá sức nặng nề và hầu như không có một kháng lực nào để căn bệnh đó thuyên giảm.
Bài viết này của Richard Pipes, giáo sư sử học Mỹ, chuyên gia hàng đầu về Liên Xô cũ và nước Nga, do Thái Linh dịch và đăng trên blog Lilia. Xin mạn phép copy lại để thêm nhiều người đọc.
Nước Nga buồn thảm
Richard Pipes (nhà sử học, chính trị học, Xô-viết học người Mỹ, cố vấn của tổng thống Ronald Reagan. Bài đăng trên tuần báo Wprost (Ba Lan) số ra ngày 21-28/12/2008. Thái Linh dịch)
Xưa kia, Gogol đọc những chương đầu tiên của „Những linh hồn chết” cho Pushkin nghe. Nhà thơ thường ngày hay cười, khi nghe tác phẩm của Gogol, trở nên mỗi lúc một buồn bã hơn. Khi nhà văn ngừng đọc, Pushkin thở dài và thốt lên: „Lạy Chúa, nước Nga của chúng ta mới buồn thảm làm sao!”
Tôi nghĩ đến cảnh tượng từ đầu thế kỷ XIX ấy khi theo dõi các sự kiện ở Nga. Vì đâu một dân tộc như dân tộc Nga, tài năng trong văn học, nghệ thuật và khoa học, lại không thể tổ chức được cuộc sống xã hội để bảo đảm cho mình sự ổn định và một nhà nước pháp quyền? Tại sao người Nga che giấu hết cuộc khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, bù đắp cho điều đó bằng sự khinh mạn và khủng bố các nước láng giềng? Thật là một vở kịch thương tâm. Đã 17 năm trôi qua từ khi Liên Xô sụp đổ. Các nước Đông Âu, sau khi thoát khỏi sự kìm kẹp của Nga, đã xây dựng được những nhà nước dân chủ dù ít dù nhiều và hòa nhập vào cộng đồng châu Âu. Họ biết họ thuộc về cái gì. Chỉ có nước Nga là vẫn không biết.
Theo các điều tra dư luận, người Nga chối bỏ lối sống và các giá trị phương Tây. Trên phương diện chủng tộc và tôn giáo, họ không thuộc thế giới Hồi giáo hay Phật giáo phương Đông, họ khẳng định rằng họ muốn đi theo con đường riêng của mình, mặc dù họ không xác định được con đường đó là gì. Vì vậy họ rơi vào tình trạng tự cô lập, không biết tìm cho mình một chỗ đứng trong gia đình các dân tộc toàn thế giới.
Những người lãnh đạo nước Nga – phần lớn là các cựu quân nhân cảnh sát chính trị xô viết – ý thức được sự vô vọng của nền kinh tế cộng sản và đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhưng đấy là chủ nghĩa tư bản trong đó nhà nước kiểm soát các ngành kinh tế mang lại nhiều lợi nhuận, như dầu lửa và khí đốt, đồng thời tỏ ra không tôn trọng sở hữu tư nhân. Ví dụ như các hợp đồng với British Petroleum và Shell, bị cắt đứt với lý do không tuân thủ việc bảo vệ môi trường. Tài sản của Michail Chodorkovsky, chủ hãng Yukos, bị tịch thu trên cơ sở các cáo buộc gian dối về tội trốn thuế. Thực chất là các lý do chính trị.
Cả Putin lẫn Medvedev đều không được chuẩn bị cho các hậu quả của khủng hoảng tài chính thế giới. Cả hai đều cho rằng nước Nga được cách ly khỏi kinh tế thế giới như Liên Xô trước kia. Vì vậy họ cam đoan rằng họ kiểm soát được cuộc khủng hoảng là hậu quả sự thiếu thận trọng của người Mỹ. Nhưng họ không giải thích được cho nhân dân tại sao thị trường chứng khoán Nga sụt giảm 85%, mất nhiều hơn bất cứ thị trường chứng khoán nào khác trên thế giới. Họ không thể giải thích tại sao đồng Rúp mất giá. Nền kinh tế của họ, phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng, đang bị đe dọa, khi mà trên thị trường quốc tế giá m
ột thùng dầu tụt xuống dưới 70 USD. Các nhà lãnh đạo Nga đến bây giờ mới nhận thức được họ đã trả cái giá đắt như thế nào cho cuộc xâm lược Georgia, khi sau đó các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi Nga một số vốn trị giá gần 100 tỉ USD.
Trong lãnh vực chính trị tình hình cũng không khá hơn. Người Nga hoài nghi cho rằng mọi chính phủ đều do các chính khách chỉ biết chăm lo đến quyền lợi cá nhân lãnh đạo. Bởi vậy phần lớn dân Nga không quan tâm đến chuyện bầu những người lãnh đạo. Họ thấy các chính phủ chuyên quyền là phù hợp với mình. Những người lãnh đạo phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”. Putin và Medvedev đều tỏ rõ cho mọi người hiểu rằng họ không định xây dựng nước Nga thành một nước dân chủ. Họ lặp lại quan điểm của nữ hoàng Catherine II và Aleksandr II, rằng dân chủ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nước Nga. Trong bài giảng ở Đại học Columbia, Mỹ vào năm 2003 Putin phản đối lại lời chỉ trích rằng ở nước ông ta không có tự do ngôn luận, viện lý lẽ là trong lịch sử của mình, nước Nga chưa từng biết đến thứ tự do này. Việc chính quyền hiện nay không ưa tự do ngôn luận đã khiến cho mười ba nhà báo dũng cảm dám chỉ trích chế độ phải trả giá bằng mạng sống. Cho tới nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm.
Lệ chuyên quyền, đối với truyền thống phương Tây là cá biệt, lại được 2/3 dân Nga ủng hộ. Hậu quả của nó là sự tách biệt dân chúng khỏi các vấn đề của quốc gia. Có thể đặt câu hỏi nếu khủng hoảng chính trị nổ ra, người dân Nga có đứng lên giúp đỡ chính phủ hay không? Trong các thời điểm như vậy dân chúng rút lui vào cuộc sống riêng, để kệ cho chính phủ tự bảo vệ mình. Người ta đã có thái độ như thế ở Nga vào năm 1917 và năm 1991, khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, trong sự thờ ơ của nhân dân.
Khi người Nga nói họ muốn chính phủ phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”, ý họ cũng muốn nói đến chính sách ngoại giao. Khi hỏi rằng nước họ nên được nhìn nhận như thế nào trên trường quốc tế, gần một nửa số người được hỏi trả lời là „một nước hùng mạnh, bất khả chiến bại, một cường quốc của thế giới”. Chỉ có 3% trả lời là „nước yêu hòa bình và thân thiện”, và 1% là „nước pháp quyền và dân chủ”. Thái độ ấy của phần lớn xã hội lý giải sự nỗ lực đến mức ám ảnh của người Nga để xây dựng địa vị „cường quốc lớn” mà họ đạt tới đỉnh điểm trong chế độ Xô viết và đã đánh mất. Cũng chính vì lý do này mà phần lớn người Nga coi Stalin là lãnh tụ lớn nhất, và coi thường Kerensky và Yeltsin, những người đã cố gắng mang tự do đến cho họ. Tham vọng lớn nhất của các lãnh tụ là xây dựng cho nước Nga khả năng gây khiếp sợ và bắt người khác phải vì nể.
Mỗi năm chính sách ngoại giao của Nga một trở nên hung hãn hơn. Chính quyền phản ứng một cách giận dữ khi cảm thấy các mong muốn của mình bị lờ đi, như trong trường hợp Kosovo, Georgia hay các vấn đề hệ thống phòng chống tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Séc. (...) Có vẻ như mục đích chính của sự can thiệp vào Georgia là để quấy rối và làm mất thể diện nước Mỹ. Moscow muốn cho thấy – và họ đã thành công – rằng Mỹ không có khả năng cứu bất cứ một đồng minh nào trong „vùng ảnh hưởng đặc biệt” của Nga. Các nỗ lực của Nga để chia rẽ châu Âu và Mỹ cũng phục vụ cho mục đích này. Moscow thực hiện chính sách này thành công. Một phần là do sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp năng lượng của Nga, phần khác vì sự ghen tị với vai trò chủ đạo của Mỹ trên thế giới mà các chính khách châu Âu – Berlusconi, Sarkozy và Merkel – đã chọn sự trung lập trong căng thẳng của Washington – Moscow. Nước Nga cảm ơn Liên Hiệp châu Âu vì đã không áp dụng với nước này các hình phạt cho cuộc xâm lược Georgia.
Chuẩn bị cho dân chúng trước sự sụp đổ giả tưởng của Hoa Kỳ, truyền thông Nga vẽ ra những bức tranh vui tươi cho nước mình, mà đến năm 2020 phải vượt qua Hoa Kỳ trong kinh tế và quân sự và có thể - cùng với Trung Quốc - thay thế siêu cường quốc đáng căm ghét này. Đồng Rúp sẽ phải trở thành ngoại tệ dự trữ chính, còn Moscow – thành thủ đô tài chính của thế giới. Khi đọc các dự báo như vậy, người ta có thể đặt câu hỏi liệu các tác giả có tin vào chúng không, hay là họ đang có mưu đồ. (...)
Tôi tin rằng để nước Nga không còn là một khó khăn cho chính mình và cho phần còn lại của thế giới, nó phải chọn ra được một chính phủ biết xóa bỏ những mộng tưởng siêu cường quốc, dồn công sức cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân hiệu quả và nhà nước pháp quyền. Chính phủ ấy cũng phải từ bỏ sự tự cô lập và tiếp nhận một tiến trình theo phương Tây mạnh mẽ. Chính sách này không có cơ hội dưới trướng chính phủ của Putin – Medvedev. Có thể nước Nga cần một cú sốc mới để đương đầu với hiện thực."
Đó là nhận định không phải của một nhà chiêm tinh học mà của một vị giáo sư Nga có tên tuổi, cựu nhân viên KGB và là viện trưởng viện đào tạo các nhà ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga, tiên đoán về sự sụp đổ và tan rã của nước Mỹ . Theo dự đoán của vị giáo sư này, nước Mỹ sẽ chia thành ba: cộng hòa California gồm các bang miền Tây, nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc; New York và Washington DC cùng các bang miền Đông sẽ gia nhập Liên minh châu Âu; còn miền Bắc nước này sẽ thuộc về Canada. Texas và các bang miền Nam sẽ gia nhập Mexico! Hawaii thuộc về Nhật còn Alaska trở lại với Nga. Một kịch bản còn xa hơn những tưởng tượng của nhà văn Philip Dick trong tác phẩm giả tưởng lịch sử The Man in the High Castle, trong đó Philip Dick giả tưởng nước Mỹ thua trận trong thế chiến thứ Hai và miền Tây sẽ dưới sự bảo hộ của Nhật còn miền Đông dưới sự cai trị của Đức. Nhưng Philip Dick là nhà văn viết tiểu thuyết giả tưởng chứ không phải "chuyên gia" về quan hệ quốc tế.
Đáng nói hơn là những ý tưởng điên rồ như của vị giáo sư này lại được nước Nga tiếp nhận khá nghiêm túc, được báo đài của chính quyền đưa tin, phỏng vấn rộng rãi, thậm chí còn được đưa ra thảo luận bàn tròn tại Bộ Ngoại Giao Nga. Ông ta được những trường ngoại giao hàng đầu trong cả nước mời đến phát biểu, trình bày quan điểm của mình. Đó có phải là dấu hiệu của thái độ căm ghét phương Tây, căm ghét Mỹ mù quáng trong công chúng và chính quyền Nga hiện nay? Tôi nghĩ trong lịch sử của mình, nước Nga luôn là một hung thần, một hiểm nguy đối với các dân tộc ngoài Nga. Thời nước này hùng mạnh, nó là hung thần với các công dân của các dân tộc thiểu số trong lòng nó (xem số phận người Ukraine, người Chechen...) và các nước lân bang. Thời nước này suy yếu, nó là hung thần với những người nước ngoài và những người Nga thuộc sắc dân thiểu số sống trong lòng nó. Chủ nghĩa sô-vanh và tệ phân biệt chủng tộc ở nước này quá sức nặng nề và hầu như không có một kháng lực nào để căn bệnh đó thuyên giảm.
Bài viết này của Richard Pipes, giáo sư sử học Mỹ, chuyên gia hàng đầu về Liên Xô cũ và nước Nga, do Thái Linh dịch và đăng trên blog Lilia. Xin mạn phép copy lại để thêm nhiều người đọc.
Nước Nga buồn thảm
Richard Pipes (nhà sử học, chính trị học, Xô-viết học người Mỹ, cố vấn của tổng thống Ronald Reagan. Bài đăng trên tuần báo Wprost (Ba Lan) số ra ngày 21-28/12/2008. Thái Linh dịch)
Xưa kia, Gogol đọc những chương đầu tiên của „Những linh hồn chết” cho Pushkin nghe. Nhà thơ thường ngày hay cười, khi nghe tác phẩm của Gogol, trở nên mỗi lúc một buồn bã hơn. Khi nhà văn ngừng đọc, Pushkin thở dài và thốt lên: „Lạy Chúa, nước Nga của chúng ta mới buồn thảm làm sao!”
Tôi nghĩ đến cảnh tượng từ đầu thế kỷ XIX ấy khi theo dõi các sự kiện ở Nga. Vì đâu một dân tộc như dân tộc Nga, tài năng trong văn học, nghệ thuật và khoa học, lại không thể tổ chức được cuộc sống xã hội để bảo đảm cho mình sự ổn định và một nhà nước pháp quyền? Tại sao người Nga che giấu hết cuộc khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, bù đắp cho điều đó bằng sự khinh mạn và khủng bố các nước láng giềng? Thật là một vở kịch thương tâm. Đã 17 năm trôi qua từ khi Liên Xô sụp đổ. Các nước Đông Âu, sau khi thoát khỏi sự kìm kẹp của Nga, đã xây dựng được những nhà nước dân chủ dù ít dù nhiều và hòa nhập vào cộng đồng châu Âu. Họ biết họ thuộc về cái gì. Chỉ có nước Nga là vẫn không biết.
Theo các điều tra dư luận, người Nga chối bỏ lối sống và các giá trị phương Tây. Trên phương diện chủng tộc và tôn giáo, họ không thuộc thế giới Hồi giáo hay Phật giáo phương Đông, họ khẳng định rằng họ muốn đi theo con đường riêng của mình, mặc dù họ không xác định được con đường đó là gì. Vì vậy họ rơi vào tình trạng tự cô lập, không biết tìm cho mình một chỗ đứng trong gia đình các dân tộc toàn thế giới.
Những người lãnh đạo nước Nga – phần lớn là các cựu quân nhân cảnh sát chính trị xô viết – ý thức được sự vô vọng của nền kinh tế cộng sản và đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhưng đấy là chủ nghĩa tư bản trong đó nhà nước kiểm soát các ngành kinh tế mang lại nhiều lợi nhuận, như dầu lửa và khí đốt, đồng thời tỏ ra không tôn trọng sở hữu tư nhân. Ví dụ như các hợp đồng với British Petroleum và Shell, bị cắt đứt với lý do không tuân thủ việc bảo vệ môi trường. Tài sản của Michail Chodorkovsky, chủ hãng Yukos, bị tịch thu trên cơ sở các cáo buộc gian dối về tội trốn thuế. Thực chất là các lý do chính trị.
Cả Putin lẫn Medvedev đều không được chuẩn bị cho các hậu quả của khủng hoảng tài chính thế giới. Cả hai đều cho rằng nước Nga được cách ly khỏi kinh tế thế giới như Liên Xô trước kia. Vì vậy họ cam đoan rằng họ kiểm soát được cuộc khủng hoảng là hậu quả sự thiếu thận trọng của người Mỹ. Nhưng họ không giải thích được cho nhân dân tại sao thị trường chứng khoán Nga sụt giảm 85%, mất nhiều hơn bất cứ thị trường chứng khoán nào khác trên thế giới. Họ không thể giải thích tại sao đồng Rúp mất giá. Nền kinh tế của họ, phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng, đang bị đe dọa, khi mà trên thị trường quốc tế giá m
ột thùng dầu tụt xuống dưới 70 USD. Các nhà lãnh đạo Nga đến bây giờ mới nhận thức được họ đã trả cái giá đắt như thế nào cho cuộc xâm lược Georgia, khi sau đó các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi Nga một số vốn trị giá gần 100 tỉ USD.
Trong lãnh vực chính trị tình hình cũng không khá hơn. Người Nga hoài nghi cho rằng mọi chính phủ đều do các chính khách chỉ biết chăm lo đến quyền lợi cá nhân lãnh đạo. Bởi vậy phần lớn dân Nga không quan tâm đến chuyện bầu những người lãnh đạo. Họ thấy các chính phủ chuyên quyền là phù hợp với mình. Những người lãnh đạo phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”. Putin và Medvedev đều tỏ rõ cho mọi người hiểu rằng họ không định xây dựng nước Nga thành một nước dân chủ. Họ lặp lại quan điểm của nữ hoàng Catherine II và Aleksandr II, rằng dân chủ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nước Nga. Trong bài giảng ở Đại học Columbia, Mỹ vào năm 2003 Putin phản đối lại lời chỉ trích rằng ở nước ông ta không có tự do ngôn luận, viện lý lẽ là trong lịch sử của mình, nước Nga chưa từng biết đến thứ tự do này. Việc chính quyền hiện nay không ưa tự do ngôn luận đã khiến cho mười ba nhà báo dũng cảm dám chỉ trích chế độ phải trả giá bằng mạng sống. Cho tới nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm.
Lệ chuyên quyền, đối với truyền thống phương Tây là cá biệt, lại được 2/3 dân Nga ủng hộ. Hậu quả của nó là sự tách biệt dân chúng khỏi các vấn đề của quốc gia. Có thể đặt câu hỏi nếu khủng hoảng chính trị nổ ra, người dân Nga có đứng lên giúp đỡ chính phủ hay không? Trong các thời điểm như vậy dân chúng rút lui vào cuộc sống riêng, để kệ cho chính phủ tự bảo vệ mình. Người ta đã có thái độ như thế ở Nga vào năm 1917 và năm 1991, khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, trong sự thờ ơ của nhân dân.
Khi người Nga nói họ muốn chính phủ phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”, ý họ cũng muốn nói đến chính sách ngoại giao. Khi hỏi rằng nước họ nên được nhìn nhận như thế nào trên trường quốc tế, gần một nửa số người được hỏi trả lời là „một nước hùng mạnh, bất khả chiến bại, một cường quốc của thế giới”. Chỉ có 3% trả lời là „nước yêu hòa bình và thân thiện”, và 1% là „nước pháp quyền và dân chủ”. Thái độ ấy của phần lớn xã hội lý giải sự nỗ lực đến mức ám ảnh của người Nga để xây dựng địa vị „cường quốc lớn” mà họ đạt tới đỉnh điểm trong chế độ Xô viết và đã đánh mất. Cũng chính vì lý do này mà phần lớn người Nga coi Stalin là lãnh tụ lớn nhất, và coi thường Kerensky và Yeltsin, những người đã cố gắng mang tự do đến cho họ. Tham vọng lớn nhất của các lãnh tụ là xây dựng cho nước Nga khả năng gây khiếp sợ và bắt người khác phải vì nể.
Mỗi năm chính sách ngoại giao của Nga một trở nên hung hãn hơn. Chính quyền phản ứng một cách giận dữ khi cảm thấy các mong muốn của mình bị lờ đi, như trong trường hợp Kosovo, Georgia hay các vấn đề hệ thống phòng chống tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Séc. (...) Có vẻ như mục đích chính của sự can thiệp vào Georgia là để quấy rối và làm mất thể diện nước Mỹ. Moscow muốn cho thấy – và họ đã thành công – rằng Mỹ không có khả năng cứu bất cứ một đồng minh nào trong „vùng ảnh hưởng đặc biệt” của Nga. Các nỗ lực của Nga để chia rẽ châu Âu và Mỹ cũng phục vụ cho mục đích này. Moscow thực hiện chính sách này thành công. Một phần là do sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp năng lượng của Nga, phần khác vì sự ghen tị với vai trò chủ đạo của Mỹ trên thế giới mà các chính khách châu Âu – Berlusconi, Sarkozy và Merkel – đã chọn sự trung lập trong căng thẳng của Washington – Moscow. Nước Nga cảm ơn Liên Hiệp châu Âu vì đã không áp dụng với nước này các hình phạt cho cuộc xâm lược Georgia.
Chuẩn bị cho dân chúng trước sự sụp đổ giả tưởng của Hoa Kỳ, truyền thông Nga vẽ ra những bức tranh vui tươi cho nước mình, mà đến năm 2020 phải vượt qua Hoa Kỳ trong kinh tế và quân sự và có thể - cùng với Trung Quốc - thay thế siêu cường quốc đáng căm ghét này. Đồng Rúp sẽ phải trở thành ngoại tệ dự trữ chính, còn Moscow – thành thủ đô tài chính của thế giới. Khi đọc các dự báo như vậy, người ta có thể đặt câu hỏi liệu các tác giả có tin vào chúng không, hay là họ đang có mưu đồ. (...)
Tôi tin rằng để nước Nga không còn là một khó khăn cho chính mình và cho phần còn lại của thế giới, nó phải chọn ra được một chính phủ biết xóa bỏ những mộng tưởng siêu cường quốc, dồn công sức cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân hiệu quả và nhà nước pháp quyền. Chính phủ ấy cũng phải từ bỏ sự tự cô lập và tiếp nhận một tiến trình theo phương Tây mạnh mẽ. Chính sách này không có cơ hội dưới trướng chính phủ của Putin – Medvedev. Có thể nước Nga cần một cú sốc mới để đương đầu với hiện thực."
Friday, January 16, 2009
Entry for January 16, 2009
Buổi sáng thứ 7, dậy từ 5h sáng, do tối hôm qua uống rượu.
Vào Internet đọc blog một lát, rồi lại nằm đọc sách tiếp. Ba người bạn của Remarque, mua từ 6-7 năm trước mà chưa có dịp đọc. Lại cũng là về rượu. Hình như rượu có mặt thường trực trong hầu hết sách của Remarque?
8h, dậy ăn sáng rồi đi uống cafe. Định vào một quán nào thật yên tĩnh và thoải mái nhưng thấy nắng đẹp quá nên ra một quán cafe ven hồ Ngọc Khánh. Trời bắt đầu hửng nắng, màu nắng mùa đông nhàn nhạt nhưng ấm áp và rất đẹp. Bàn bên cạnh có hai người, một trong đó hình như là một nhà phê bình nổi tiếng khá quen mặt trên báo chí.
9h15, định đi loanh quanh phố xá hay lên phố mua CD, DVD nhưng lại thấy hơi buồn ngủ. Thế là lại về nhà, đường sáng thứ 7 vẫn đông nhưng dù sao cũng đỡ hơn ngày thường. Có hơi nắng nên khá dễ chịu. Về nhà leo lên giường nằm lơ mơ một lúc.
Nghe CCR và The Eagles, những ban nhạc của những năm 70, ấm áp và thong thả, những giai điệu về một thế giới đã cũ, hình như ngây thơ và nhiều niềm tin hơn cái thế giới chúng ta đang sống.
Nắng vẫn rọi trên những ô cửa sổ, trên những mái nhà. Một tuần nữa là Tết và mùa xuân.
It's another tequila sunrise
Starin' slowly cross the sky, said goodbye...
It's another tequila sunrise, this old world
Still looks the same,
Vào Internet đọc blog một lát, rồi lại nằm đọc sách tiếp. Ba người bạn của Remarque, mua từ 6-7 năm trước mà chưa có dịp đọc. Lại cũng là về rượu. Hình như rượu có mặt thường trực trong hầu hết sách của Remarque?
8h, dậy ăn sáng rồi đi uống cafe. Định vào một quán nào thật yên tĩnh và thoải mái nhưng thấy nắng đẹp quá nên ra một quán cafe ven hồ Ngọc Khánh. Trời bắt đầu hửng nắng, màu nắng mùa đông nhàn nhạt nhưng ấm áp và rất đẹp. Bàn bên cạnh có hai người, một trong đó hình như là một nhà phê bình nổi tiếng khá quen mặt trên báo chí.
9h15, định đi loanh quanh phố xá hay lên phố mua CD, DVD nhưng lại thấy hơi buồn ngủ. Thế là lại về nhà, đường sáng thứ 7 vẫn đông nhưng dù sao cũng đỡ hơn ngày thường. Có hơi nắng nên khá dễ chịu. Về nhà leo lên giường nằm lơ mơ một lúc.
Nghe CCR và The Eagles, những ban nhạc của những năm 70, ấm áp và thong thả, những giai điệu về một thế giới đã cũ, hình như ngây thơ và nhiều niềm tin hơn cái thế giới chúng ta đang sống.
Nắng vẫn rọi trên những ô cửa sổ, trên những mái nhà. Một tuần nữa là Tết và mùa xuân.
It's another tequila sunrise
Starin' slowly cross the sky, said goodbye...
It's another tequila sunrise, this old world
Still looks the same,
Entry for January 16, 2009
Thông tin về chương trình quyên góp áo ấm cho trẻ em vùng cao.
Nhiều bạn blogger hẳn biết đến blog Tờ Rang (nhà báo Nguyễn Thị Thu Trang, báo Gia đình Xã hội) với những hoạt động từ thiện giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn ở vùng cao.
Ngày 17/1 tới, sẽ diễn ra hoạt động quyên góp quần áo ấm cho trẻ vùng cao tại địa điểm Tadioto- 113 Triệu Việt Vương, Hà Nội. Thông tin cụ thể trên blog myselfvn.
Thông tin về việc quyên góp trên blog Tờ Rang.
"Tadioto – 113 Triệu Việt Vương – Hà Nội
17-1-2009
Xin mời đến thưởng thức chương trình biểu diễn âm nhạc của nhóm tác giả M6 (Nguyễn Lê Tâm, Nguyễn Vĩnh Tiến, Ngô Hồng Quang, Trần Đức Minh, Nguyễn Tuấn và Ngô Tự Lập) cùng nghệ sĩ Nati Brooks.
Nếu có điều kiện (và nhã hứng) - không có cũng chã sao, tại đây, bạn có thể chia sẻ quần áo ấm, giày dép và quà tết cho các em nhỏ ở Sơn Vĩ, một trong những xã nghèo nhất của Mèo Vạc. Nhà báo Nguyễn Thị Thu Trang (Blogger Tơ Rang) sẽ đích thân mang quà tết của chúng ta đến trao tận tay các em. Nếu nhiều quà mình chia cho các em bé nghèo khác nữa.
Nhận quà: 18h – 19h
Thưởng thức âm nhạc: 19h – 20h30"
Nhiều bạn blogger hẳn biết đến blog Tờ Rang (nhà báo Nguyễn Thị Thu Trang, báo Gia đình Xã hội) với những hoạt động từ thiện giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn ở vùng cao.
Ngày 17/1 tới, sẽ diễn ra hoạt động quyên góp quần áo ấm cho trẻ vùng cao tại địa điểm Tadioto- 113 Triệu Việt Vương, Hà Nội. Thông tin cụ thể trên blog myselfvn.
Thông tin về việc quyên góp trên blog Tờ Rang.
"Tadioto – 113 Triệu Việt Vương – Hà Nội
17-1-2009
Xin mời đến thưởng thức chương trình biểu diễn âm nhạc của nhóm tác giả M6 (Nguyễn Lê Tâm, Nguyễn Vĩnh Tiến, Ngô Hồng Quang, Trần Đức Minh, Nguyễn Tuấn và Ngô Tự Lập) cùng nghệ sĩ Nati Brooks.
Nếu có điều kiện (và nhã hứng) - không có cũng chã sao, tại đây, bạn có thể chia sẻ quần áo ấm, giày dép và quà tết cho các em nhỏ ở Sơn Vĩ, một trong những xã nghèo nhất của Mèo Vạc. Nhà báo Nguyễn Thị Thu Trang (Blogger Tơ Rang) sẽ đích thân mang quà tết của chúng ta đến trao tận tay các em. Nếu nhiều quà mình chia cho các em bé nghèo khác nữa.
Nhận quà: 18h – 19h
Thưởng thức âm nhạc: 19h – 20h30"
Wednesday, January 14, 2009
Entry for January 14, 2009
Ta còn em những ngọn đèn mờ.
Trên nóc phố,
Mùa trăng không tỏ.
Tiếng rao đêm
Lạc giọng
Thờ ơ...
Ta còn em những giọt sương
Nhòa nhòa bóng điện
Mặt nước Hồ Gươm
Một đêm trở lạnh....
Châm lửa điếu thuốc cuối cùng
Xập xòa
Kỷ niệm.
Đêm Kinh Kỳ thuở ấy,
Xanh lơ ...
(Phan Vũ- Hà Nội Phố)
(photo by T.)
Sunday, January 11, 2009
Entry for January 11, 2009
Minh Biện cũng bị firewall?
Tôi vào trực tiếp từ FPT Internet ở Hà Nội theo địa chỉ www.minhbien.org nhưng không vào được. Tôi thử qua proxy thì vào được, ví dụ như qua đây hay qua đây. Bạn nào ở Việt Nam có thể thử lại cho chính xác không?
Nếu 1 trang web trung tính, mang tính học thuật, và do những trí thức trẻ, trưởng thành trong mái trường XHCN trước khi du học ở nước ngoài lập ra mà còn bị firewall thì xem ra cái lề phải của các bạn 4T ngày càng chật chội.
Nếu trang này bị firewall thì hẳn là vì các bài viết có tính khoa học về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa của các tác giả như Dương Danh Huy, Dự Trần, Lê Minh Phiếu? Nhiều thành viên Minh Biện cũng nằm trong số các sáng lập viên của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông. Quỹ này tập hợp, dịch và tổ chức các nghiên cứu về Hoàng Sa-Trường Sa và các vấn đề khác liên quan tới biển Đông. Quỹ cũng từng gửi thư ngỏ tới chính phủ và nhân dân các nước Đông Nam Á có tranh chấp biển ở Biển Đông- bức thư này đã được đăng trên tờ Manila Times của Philippines.
Tôi vào trực tiếp từ FPT Internet ở Hà Nội theo địa chỉ www.minhbien.org nhưng không vào được. Tôi thử qua proxy thì vào được, ví dụ như qua đây hay qua đây. Bạn nào ở Việt Nam có thể thử lại cho chính xác không?
Nếu 1 trang web trung tính, mang tính học thuật, và do những trí thức trẻ, trưởng thành trong mái trường XHCN trước khi du học ở nước ngoài lập ra mà còn bị firewall thì xem ra cái lề phải của các bạn 4T ngày càng chật chội.
Nếu trang này bị firewall thì hẳn là vì các bài viết có tính khoa học về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa của các tác giả như Dương Danh Huy, Dự Trần, Lê Minh Phiếu? Nhiều thành viên Minh Biện cũng nằm trong số các sáng lập viên của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông. Quỹ này tập hợp, dịch và tổ chức các nghiên cứu về Hoàng Sa-Trường Sa và các vấn đề khác liên quan tới biển Đông. Quỹ cũng từng gửi thư ngỏ tới chính phủ và nhân dân các nước Đông Nam Á có tranh chấp biển ở Biển Đông- bức thư này đã được đăng trên tờ Manila Times của Philippines.
Subscribe to:
Posts (Atom)

